Em thấy con người đẹp chứ?

Không khí mấy hôm trước dường như đặc quánh lại. Xen lẫn sự oi nồng hiếm thấy ở đầu thu là mùi tro vàng mã bay dày đặc trên suốt những hàng cây, góc phố. Chỉ mười lăm ngày và mười lăm ngày này thôi, mật độ dân cư ở đô thị này sẽ tăng lên gấp mười, à không, gấp cả trăm lần. Mười lăm ngày của âm dương hòa hợp. Mười lăm ngày mà việc cấp visa lên hạ giới từ địa phủ trở nên dễ dàng hơn tất cả những quãng thời gian khác trong năm. Mười lăm ngày mà cái chết được nghĩ tới nhiều không kém gì sự sống. Mùa này trong đạo Phật gọi là mùa Địa Tạng. Còn trong đạo Yêu, người ta gọi là mùa Ngâu.

Mùa Địa Tạng là mùa của vong, là tinh anh, là thể phách của những người từng sống và tồn tại. Mùa Ngâu cũng là mùa của người đã mất, cũng là thể phách, là tinh anh của hai kẻ cũng từng sống và tồn tại, có chăng khác biệt là chết trong sự nhớ nhung, sự chia cách và những gia vị hồi ức.

Hôm nay, không khí trở lại mùa thu như nó vốn dĩ, kèm theo những cơn mưa ồ ạt, đủ làm phố ngập sâu. Mưa mùa thu nhưng chẳng còn như nước mắt ai nhớ nhau nữa. Những cơn mưa đủ để che kín màu đèn của con phố bên hồ. Những cơn mưa cũng đủ để làm con người chợt sợ hãi, vì có thể sẽ đến một ngày mà niềm vui cũng chỉ để vơi đi nỗi buồn, cạn đi nỗi nhớ. “Mưa trời rồi sẽ tạnh, nhưng mưa trong lòng thì sao?”

Tình yêu nhiều khi đẹp bởi sự chia ly. Cái chết đẹp vì là tận cùng của cái sống. Nỗi nhớ cũng đẹp em nhỉ? Thế còn con người? “Con người đẹp vì đâu hả em?” Nó có như ngôi nhà kiên cố ở phố ấy? Ngôi nhà không kiên cố bởi kiến trúc hay giá trị của nó. Ngôi nhà kiên cố bởi những ẩn giấu, những chứa đựng trong lòng nó. Phải chăng con người cũng vậy, đẹp nhờ tâm hồn hay những gì ẩn giấu thẳm sâu trong nó phải không?

Nghĩ về em, ta lang thang trong ba nghìn thế giới, ta bỗng thấy mình lạc vào cõi vô hình vô sắc…

Những con người thất thểu, từng đoàn từng đoàn lẫn lộn bước đi dưới tinh kỳ của một dị nhân lưỡi dài.

Những đoàn người phục trang sặc sỡ hát ca, tung hoa trên những nơi mà bàn chân chạm tới.

Những đoàn người oai phong lẫm liệt, gươm giáo súng đạn uy nghi chỉnh tề ngay ngắn.

Những văn nhân “phong lưu tài mạo tốt vời” dưới những bóng tùng, ung dung nghiêng mình trên cánh hạc.

Bỗng như một cái tát làm ta giật mình và hoang mang, trong thăm thẳm lời từ đâu vọng lại :

“Không có hạc vàng, mây trắng đâu

Chẳng có người tiên, chẳng có lầu

Tưởng hạc vàng đi, mây trắng ở

Lầm Thôi Hiệu trước, Nguyễn Du sau…”.

Thơ cũ chưa dừng thì đâu đó chợt ngân lên đôi câu :

 “Tương tiếu nhất thanh song lệ lạc

Khả liên bán điểm thấp châu huyền”

Một tiếng đại đao chạm vào Cao thánh, kết thúc một tiếng nói khác ở xã hội Việt Nam, trong thời kỳ rực rỡ cuối cùng của văn học Việt Nam vào buổi cuối trung đại, đầu cận đại. Nhát đại đao đã cuộn vào biết bao nước mắt, từ những bậc tài tử vương giả như Miên Thẩm, Miên Trinh … cho tới những sĩ phu đương thời như Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu … Phải chăng “Tài Hoa Là Nợ”?

Người tài mỗi người mỗi hướng, mỗi thân mỗi chí nhưng đều giao nhau bởi cái tâm rộng mở. Những giọt nước mắt xót thương mà Nguyễn hầu dành cho chúng sinh muôn loại, nếu không nhiều như mưa hồ Tây đêm nay thì chắc cũng ít hơn là mấy. Những giọt nước mắt xót thương từ công hầu khanh tướng cho tới kẻ thảo dân cùng cực, tới cả những hạng cùng đinh trong xã hội đương thời. Lúc sống dẫu bị phân chia, nhưng khi đã mất đi thì ai cũng như ai trước Phật, trước Tiêu Diện đại sỹ.

Con người thật đẹp, em nhỉ? Cái đẹp đâu chỉ ở trong thế giới tinh thần. Cái đẹp còn hiện hữu trong những sự tương tác độc lập và giá trị tự thân ở mỗi cá thể. Cái đẹp cũng có những khi hiện hữu trong việc “quyết tâm thực hiện hành vi đến cùng”, như cái chết của Romeo & Juliet, như tình cảm của Marguerite & Duval. Hay cái đẹp nằm ở sự mới mẻ của chính nó? Hay cái đẹp nằm trong những sự bất toàn? Bạn bè vẫn bảo là cái đẹp ở khắp mọi nơi cơ mà nhỉ?

– “Giữa cuộc đời đầy bất định, anh không chỉ hay viết những điều nhảm nhí mà còn quá độc đoán phải không em?”

– “Em thấy con người đẹp chứ?”

 

Nguồn : https://www.facebook.com/nhungcamxuctrongveo/

Advertisements

Vô Đề

Sương đêm tim tím,
Đáy nước trăng tà,
Hạc đêm cô quạnh
Góc trời ngân nga.
Gõ mạn thuyền bài hát “Chu trung thính vũ”
Vạn cổ sầu mỗi khúc mỗi tơ vương,
Thăm thẳm hơi thu tràn khắp ngả,
Đòi đoạn tơ lòng,
Ròng ròng sương nhỏ.
Núi sông ơi! Mưa gió đến bao giờ?…

– Phạm Sinh –

 

18670871_800589553432360_6564231547480453308_n

Dậy Ăn Sáng :D

Dậy Ăn Sáng (soundcloud)

Buổi sáng ông hay ăn gì ? Dậy trễ nên tôi ăn mì !
Và nếu cuối tuần này ông vẫn dư tiền, đi ăn với tôi anh em hàn huyên !
Buổi sáng nên ăn phở bò ? Hay một bán bún riêu với giò ?
Và đã bao giờ mà ông thấy đau đầu vì không biết nên ăn gì ở đâu ?
Cứ đi một vòng dù ngõ ngách thật sâu.
Cứ chọn món gì mà ăn ngon nhớ lâu
Để mai này dẫn người yêu đi tự tin nói câu này :” Bạn anh với anh hay ăn ở đây”

Đặt báo thức lúc 6 giờ rồi xuống mau lên tôi chờ
Đừng quần áo cầu kì vì tôi thích nhanh gọn, chỉ cần kiếm quán ăn nào thật ngon
Buổi sáng đi ăn phố phường, rồi kiếm một quán nước ngay ven đường
Một chiếc ghế nhựa màu xanh mấy ly trà, bàn chuyện thế gian vui buồn gần xa
Ngồi nhìn xe cộ rồi đường phố dần đông
Nói những câu chuyện chỉ riêng tôi với ông
Gọi thêm bao thuốc loại mình thích để lát nữa ta ngồi Sài Gòn của ông, Thăng Long của tôi

Buổi sáng thứ ăn gì, đi làm sớm chắc tôi ăn mì ..
Vậy nếu cuối tuần này chưa có ai hẹn, dậy sớm với tôi đi ăn đừng quên
Buổi sáng mấy hôm trong tuần, vui thì ít âu lo bao phần
Chuyện tiền nong, công việc làm tôi thấy rã rời
Chỉ mong đến hôm cuối tuần thành thơi
Và mong cuối tuần này ông vẫn dư tiền, đi ăn với tôi anh em hàn huyên


Bài này mình thích quá ❤

Loa phường, chào nhé!

Chuyện kể rằng cách đây gần 25 năm về trước, khi ông nội còn sống, có một đoạn nói chuyện của ông với thằng cháu như sau :

  • Ông : Đố Tôm biết, thứ gì của con gà bỏ đi thì tiếc mà ăn thì cũng chẳng ngon lành gì?
  • Tôm : Phao câu ạ?
  • Ông : Không phải.
  • Tôm : Mào gà ạ?
  • Ông : Không phải.
  • Tôm : Chân gà ạ?
  • Ông : Gần đúng!
  • Tôm : Cháu chịu.
  • Ông : Đáp án là “gân gà”.

Đọc đoạn hội thoại này, hẳn ai hâm mộ Tam Quốc đều biết ông tôi là fan ruột của nhất đại kỳ thư Tàu khựa. Tôi nhớ lại đoạn nói chuyện này của hai ông cháu vì hôm nay trên Vnexpress có bài viết này : http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ha-noi-dung-phat-loa-phuong-hang-ngay-tai-4-quan-cu-3622054.html

Trong suy nghĩ của tôi, cái loa phường cũng như gân gà, bỏ đi thì tiếc mà ăn thì cũng chẳng ngon lành, vui vẻ gì. Thôi thì giữ được thì cố mà giữ, nhưng hôm nay người ta bỏ đi rồi.

Để cho những thứ không hay về loa phường thì hôm nay đã quá nhiều gạch đá rồi, mình đồng tình và cũng chẳng chê thêm nữa. Có những thứ làm mình bâng khuâng tiếc nuối ở đây, nó là những kỉ niệm, những trải nghiệm.

Loa phường trong ý niệm của mình là “Nhớ về Hà Nội” lúc sáng sớm của giọng Hồng Nhung, là “Nhớ mùa thu Hà nội”, là “Có phải em mùa thu Hà Nội” lúc chiều tà. Bạn mình có lần bảo mình “Hình như mỗi phường ở Hà Nội sẽ phát những bài hát riêng”, có lẽ mình sẽ không có dịp để check rồi.

Loa phường cũng là nơi để thông báo nhiều việc của phường, từ tiêm người tới tiêm chó, từ thông báo khám nghĩa vụ thanh niên cho tới khám sức khỏe người già, rồi thông báo nhận lương hưu với bầu cử …

Loa phường như là một biểu tượng của chế độ XHCN tập trung miền Bắc, cũng như hình ảnh cột đèn trong tranh Hà Nội của Bùi Xuân Phái, như chữ Vạn trong Phật giáo hay cây Thập Giá trong đạo Thiên Chúa.

Loa phường là thứ để những bạn bè của mình nhìn vào và nhớ hồi thơ ấu. Đó là việc đánh thức mọi người một cách vô ý vào sáng sớm. Đó là những tiếng”UUUUUuuuu..” kéo dài, mang lại cảm giác khó chịu, tương tự như tiếng báo động máy bay cho đồng bào thủ đô những năm không quân Mỹ còn oanh tạc Hà Nội.

Loa phường là nơi thu thập và tiếp nhận thông tin của các cụ già ở đầu phố, bên chén trà nóng có giá 200đ (1993) tới giá hiện thời là 3000đ – 5000đ.

Loa phường cũng có lúc vô ý phát ra những âm thanh lạ trong phòng phát thanh khi người ta không để ý, bấm nhầm cái nút gì đó.

Loa phường là thứ luôn gắn liền với cột điện.

Đấy, nếu không bỏ thì cũng chẳng có gì mà nghĩ đâu. Nhưng vì bỏ rồi nên có vài suy nghĩ mông lung và vớ vẩn.

Thời gian cứ trôi, mọi thứ đều sẽ mất mát, phải không?

loa_phuong_UBLT

Nguồn : https://www.facebook.com/nhungcamxuctrongveo/

Bất định có phải cuộc đời không em?

Những thứ hiếm hoi thường quý giá (trừ con gái học ngành kỹ thuật – đùa đấy!). Người ta thường phấn đấu, cố gắng để đạt được và hạnh phúc khi như ý. Nhưng cũng có những trải nghiệm bình dị mà lớn lao, giản đơn mà ý nghĩa. Đó có thể là việc ngồi ngắm những cơn giông, cơn gió kèm sấm, chớp trước cơn mưa. Đó cũng là việc chạy nhưng bay trong cơn mưa tầm tã. Đó cũng có thể là ngồi ở một ngã ba tù mù đèn, nước nhỏ long tong qua những lỗ thủng trên chiếc bạt cũ, ngắm dòng người hối hả lại qua.

Đâu là sự bất định trong cái thành phố này? Chắc hẳn không phải việc ngồi ngắm những cơn giông, cơn gió trước cơn mưa. Hay dù có phải chạy như bay trong cơn mưa tầm tã để ướt từ đỉnh đầu lơ thơ tóc đến gót giày, nếu vẫn biết quán quen ở đâu và đèn quán vẫn chưa tắt, đó cũng chẳng phải là bất định? Hay đó là mỗi câu chuyện của mỗi người trong quán ăn, thay vì ăn bữa cơm gia đình thì lại dùng tạm một bát phở bên ngoài giữa cơn giông cuối hạ? Liệu còn điều gì bất định và buồn hơn không?

Đó có phải là việc những bạn 26.5 điểm trượt ĐH Ngoại Thương, 27 điểm trượt ĐH Y Hà Nội? Buồn lắm, nhưng mà rồi sẽ có cách sắp xếp phải không? Điểm số chưa hẳn là thước đo của tài năng. Thiếu chút xíu nguyện vọng 1 thì ta vào nguyện vọng 2. Không vào được Y Hà Nội thì vào Quân Y. Người giỏi thì ở đâu và làm gì cũng giỏi nhỉ? Đâu nhất thiết học Ngoại Thương mới giỏi về kinh tế. Đâu nhất thiết học Y Hà Nội mới trở thành những lương y có ích trong cuộc đời. Tuổi trẻ lúc nào cũng đẹp đến đau lòng?

Vậy bất định có phải là việc những kì thi đại học luôn đưa ra những phương án cuối cùng vào sát ngày thi? Hay bất định là việc chẳng có một cơ sở rõ ràng nào để tính toán nhằm chọn trường đại học cho phù hợp với sức học? Hay đó là việc viết một cuốn sách bày tỏ suy tư cá nhân, để rồi một ông nào đó lấy ra một đoạn để chọn làm đề thi đại học và hứng muôn vàn gạch đá chỉ trích đầy cay nghiệt? Hay đó là việc lúc ở bên ta, lúc ra bên địch?

Tuổi trẻ vẫn vậy, luôn là một bầu trời trong lành thấm đẫm hương hoa mà ai đã trải qua đều mong có một lần được quay trở lại.

Buồn nhỉ? Chẳng ai có thể tắm hai lần ở một dòng sông!

Nhưng người ta sẽ có thể dính hai cơn mưa khác nhau khi đi một chặng đường trong lòng phố thị.

19554255_477829325891727_3911894332638579405_n

(ảnh sưu tầm)

Nguồn : Trong Veo

Bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình

chien-sy-giai-phong-va-nguoi-linh-viet-nam-cong-hoa-trong-buc-anh-khoac-vai-nhau-gio-ra-sao-0

(ảnh sưu tầm)

Buổi sáng tôi mặc áo đi giày
ra đứng ngoài đường
Gió thổi những bông nứa trắng bên sông
Mùi tóc khô còn thơm lúa mùa qua
Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
Những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
Tôi yêu đất nước này như thế
Mỗi buổi mai
Bầy chim sẻ ngoài sân
Gió mát và trong
Đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng
Tôi vẫn sống
vẫn ăn
vẫn thở
như mọi người

Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
Một vết bùn khô trên mặt đá
Không có ai chia tay
Cũng nhớ một tiếng còi tàu.
Mẹ tôi thức khuya dậy sớm
Năm nay ngoài năm mươi tuổi
Chồng chết đã mười mấy năm
Thuở tôi mới đọc được i tờ
Mẹ thương tôi mẹ vẫn tảo tần
Nước sông gạo chợ
Ngày hai buổi nhà không khi nào vắng người đòi nợ
Sống qua ngày nên phải nghiến răng
Cũng không vui nên mẹ ít khi cười
Những buổi trưa buổi tối
Ngồi một mình hay khóc
Vẫn thở dài mà không nói ra
Thương con không cha
Hẩm hiu côi cút

Tôi yêu đất nước này xót xa
Mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng
Thương tôi nên ở goá nuôi tôi
Những đứa nhà giàu hằng ngày chửi bới
Chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc,
như cho một đứa hủi
Ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới
Thắp ba cây hương
Với mấy bông hải đường
Mẹ tôi khóc thút thít
Cầu cha tôi phù hộ tôi nên người
Con nó còn nhỏ dại
Trí chưa khôn chân chưa vững bước đi
Tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng

Tôi yêu đất nước này cay đắng
Những năm dài thắp đuốc đi đêm
Quen thân rồi không ai còn nhớ tên
Dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng
Áo mồ hôi những buổi chợ về
Đời cúi thấp
Giành từng lon gạo mốc,
Từng cọng rau hột muối
Vui sao khi con bữa đói bữa no
Mẹ thương con nên cách trở sông đò
Hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc
Đêm nào mẹ cũng khóc
Đêm nào mẹ cũng khấn thầm
Mong con khôn lớn cất mặt với đời

Tôi yêu đất nước này khôn nguôi
Tôi yêu mẹ tôi áo rách
Chẳng khi nào nhớ tuổi mình bao nhiêu.
Tôi bước đi
Mưa mỗi lúc mỗi to,
Sao hôm nay lòng thấy chật
Như buổi sáng mùa đông chưa thấy mặt trời mọc
Con sông dài nằm nhớ những chặng rừng đi qua
Nỗi mệt mỏi, rưng rưng từng con nước
Chim đậu trên cành chim không hót
Khoảng vắng mùa thu ngủ trên cỏ may

Tôi yêu đất nước này những buổi mai
Không ai cười không tiếng hát trẻ con
Đất đá cỏ cây ơi
Lòng vẫn thương mẹ nhớ cha
Ăn quán nằm cầu
Hai hàng nước mắt chảy ra
Mỗi đêm cầu trời khấn phật, tai qua nạn khỏi

Tôi yêu đất nước này áo rách
Căn nhà dột phên không ngăn nổi gió
Vẫn yêu nhau trong từng hơi thở
Lòng vẫn thương cây nhớ cội hoài
Thắp đèn đêm ngồi đợi mặt trời mai

Tôi yêu đất nước này như thế
Như yêu cây cỏ ở trong vườn
Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương
Nuôi tôi thành người hôm nay
Yêu một giọng hát hay
Có bài mái đẩy thơm hoa dại
Có sáu câu vọng cổ chứa chan
Có ba ông táo thờ trong bếp
Và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen

Tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
Thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò
Áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
Trong bước chân chim sẻ
Ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi
Hay nói chuyện huyên thuyên
Chuyện trên trời dưới đất rất lạ
Chuyện bông hoa mọc một mình trên đá
Cứ hay cười mà không biết có người buồn.
Sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn
Khi xa nhà vẫn muốn ngoái lại
Ngó cây cam cây vải
Thương mẹ già như chuối ba hương
Em chưa buồn
Vì chưa rách áo

Tôi yêu đất nước này rau cháo
Bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu
Áo đứt nút qua cầu gió bay
Tuổi thơ em hãy giữ cho ngoan

Tôi yêu đất nước này lầm than
Mẹ đốt củi trên rừng cha làm cá ngoài biển
Ăn rau rìu rau éo rau trai
Nuôi lớn người từ ngày mở đất
Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật
Một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ
Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh Gióng.

Tôi đi hết một ngày
Gặp toàn người lạ
Chưa ai biết chưa ai quen
Không biết tuổi không biết tên
Cùng sống chung trên đất
Cùng nỗi đau chia cắt Bắc Nam
Cùng có chung tên gọi Việt Nam
Mang vết thương chảy máu ngoài tim
Cùng nhức nhối với người chết oan ức
Đấm ngực giận hờn tức tối
Cùng anh em cất cao tiếng nói
Bản tuyên ngôn mười bốn triệu người đòi độc lập tự do
Bữa ăn nào cũng phải được no
Mùa lạnh phải có áo ấm
Được nói cười hát ca yêu đương không ai cấm
Được thờ cúng những người mình tôn kính
Hai mươi năm cuộc đời chưa khi nào định.

Tôi trở về căn nhà nhỏ
Đèn thắp ngọn lù mù
Gió thổi trong lá cây xào xạc
Vườn đêm thơm mát
Bát canh rau dền có ớt chìa vôi
Bên hàng xóm có tiếng trẻ con khóc
Mẹ bồng con lên non ngồi cầu Ái tử
Đất nước hôm nay đã thấm hồn người
Ve sắp kêu mùa hạ
Nên không còn mấy thu
Đất nước này còn chua xót
Nên trông ngày thống nhất
Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam
Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc
Lòng vui hôm nay không thấy chật
Tôi yêu đất nước này chân thật
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
Và yêu tôi đã biết làm người
Cứ trông đất nước mình thống nhất.


19/12/1967
Trần Vàng Sao

Jean-Paul Sartre & Albert Camus

Văn học Pháp thế kỷ XX đã để lại nhiều dấu ấn lên nền văn học thế giới. Thơ có những thanh điệu trong sáng, cao sang từ Aragon, Apollinaire… Kịch có những tác phẩm để đời từ Claudel, Beckett… Nhưng nổi bật nhất trong nền văn học Pháp thế kỷ XX là tiểu thuyết với hàng loạt trào lưu đa dạng.

Chúng ta gặp những người mở đường như Produst, Rolland. Chúng ta gặp những con người ở giữa truyền thống và sự cách tân như Barbusse, Antonie de Saint-Exupery và cả Aragon. Chúng ta gặp các nhà sáng tạo ngôn ngữ như Vian, Perec, … Chúng ta gặp các nhà tiểu thuyết mới như Robbe-Grillet, Simon … Nhưng trong bài viết này, mình muốn nhắc tới chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Pháp thế kỷ XX, với hai đại diện tiêu biểu là Albert Camus và Jean-Paul Sartre cùng giao tình của họ.

Sartre (21/06/1905 – 15/04/1980) sinh trước nhưng thọ hơn Camus (07/11/1913 – 04/01/1960). Sartre được đào tạo bài bản và chính quy hơn so với Camus, Sartre là dân cao đẳng triết rồi tiến lên học vị tiến sỹ còn Camus chỉ học hết đại học về triết. Sartre được tôn sùng tại Pháp là bậc thầy về chủ nghĩa hiện sinh còn Camus đã có những lúc phủ nhận tinh thần hiện sinh trong tư tưởng và tác phẩm của mình. Phải chăng vì thế nên người ta hay nhìn Sartre dưới góc độ là một nhà tư tưởng khi nói về hiện sinh còn Camus được nhìn dưới góc độ rộng hơn thế, một người nghệ sỹ khi trình bày các hiện sinh luận điểm.

Nguồn gốc của hai người rất khác nhau. Sartre mang nguồn gốc tư sản Paris còn Camus chỉ là con của một người mẹ là thợ hầm lò. Sartre được tạo điều kiện nhiều hơn Camus trong việc học tập và nghiên cứu nhưng có lẽ vì thế, những giá trị Camus đạt được có phần vĩ đại hơn một chút so với Sartre. Camus được trao giải Nobel năm 1960 còn Sartre được trao giải Nobel năm 1964 nhưng ông đã từ chối. Có người bảo là Sartre ganh tỵ với Camus vì Camus được trao giải trước nên không nhận giải. Có người bảo là ông từ chối nhận giải vì không muốn mình biến thành một thiết chế xã hội ảnh hưởng đến công việc hoạt động chính trị cấp tiến. Lý do thì có nhiều nhưng sự thật đến giờ vẫn chưa ai biết.

Cả hai vĩ nhân Pháp quốc đều dấn thân rất sâu vào con đường chính trị nhưng đường lối của Sartre thường tạo sự bất ngờ cho những người quan tâm hơn. Họ cùng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những cuộc chiến tranh đương thời, cá biệt là Sartre từng tham gia chống Phát xít và bị cầm tù.

Còn rất nhiều điều mình muốn kể thêm nhưng mình buồn ngủ quá. Điều cuối cùng mình muốn kể là họ rất yêu thương nhau, coi trọng nhau chứ không như lời đồn đoán độc miệng của thiên hạ. Họ tôn trọng và yêu quý nhau còn hơn cả tình cảm mà Ronaldo và Messi dành cho nhau trong thời điểm hiện tại. Hãy đọc bài điếu văn của Sartre trước mộ Camus, chúng ta sẽ hiểu điều đó.

Và câu hỏi không liên quan nhất trong bài :

Đâu là cảm giác sống động nhất trong khoảnh khắc hiện sinh?

Ảnh mình họa không liên bài viết : Cuốn Ngôn Từ được mới được Nhã Nam xuất bản lại.

IMG_20170726_014521_1501008363226

Nguồn bài viết : https://www.facebook.com/nhungcamxuctrongveo/

Tự Do Ý Chí

Mỗi cuốn sách, mỗi tác phẩm đều cho ta những cảm nhận khác nhau trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kì.

Cách đây nhiều năm, mình đọc “Sống mãi với Thủ Đô” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, mình luôn cảm nhận được sự nhiệt huyết trong lý tưởng của nhà văn. Chủ nghĩa lãng mạn hòa cùng tinh thần anh hùng cách mạng được làm nổi bật trong tình yêu dân tộc, yêu đất nước và tinh thần “Quyết Tử Để Tổ Quốc Quyết Sinh”. mod20131218_tdtd1Tất cả những sự duy mỹ cá nhân được hòa cùng nhau để làm nên một cái đẹp tổng thể, cái đẹp của một trận chiến đậm màu trí thức tư sản. Những Trần Văn, Nhật Tân, những người thợ hay những chàng trai, cô gái Hà Nội dù khác nhau về nguồn gốc, giai cấp những đã sát cánh cùng nhau vì một mục đích cao cả. Chẳng còn sự phân biệt giữa người thị dân, người công nhân, người làm thuê, … Tất cả đều là người đô thị. Họ là những vệ quốc quân của Trung Đoàn Thủ Đô bất tử. Họ là những cảm tử quân cùng cây bom ba càng.  Họ là những dân quân tự vệ tự xây hào đắp lũy bằng của cải tư gia, tạo công sự bằng ha_noi_1946 việc đục tường các nhà trong phố, ở nơi ngàn năm luôn được coi là “phi chiến địa”. Họ chẳng tiếc mạng sống của mình, chẳng tiếc tuổi thanh xuân. Tất cả vì cuộc chiến trường kỳ phía trước, và trên hết là vì cái đẹp và sự lãng mạn. Chủ nghĩa lãng mạn có thể đã chết khi chủ nghĩa duy lý ra đời nhưng sự lãng mạn luôn tồn tại trên mặt đất, nơi vẫn còn tồn tại ý chí con người.

Đô thị không chỉ đi liền với cái đẹp, với mỹ cảm mà còn gắn liền với những bất định, những vong thân. Bên cạnh những mỹ cảm thị dân là những sự trống rỗng, tan vỡ, rời rạc trước những sự biến đổi không ngừng. Đứng dưới góc nhìn cá nhân, dường như Hà Nội không hẳn là một đô thị đúng nghĩa khi những biến động thường diễn ra từ biến động quốc gia, từ an nguy dân tộc với những cuộc chiến tranh nhân dân với kế hoạch “vườn không nhà trống”. Hà Nội dường như chỉ mang đặc tính “nửa đô thị – nửa làng” khi mọi thứ biến động luôn ít được ủng hộ, thương mại tự do không thường xuyên được tạo điều kiện (nhiều giai đoạn từ thời phong kiến cho tới 1986 còn bị cấm đoán), tư hữu cá nhân luôn gặp nhiều cái khó. Hà Nội luôn bị nghi ngờ trong những khắc giao thời, trong những cuộc chuyển giao về chính trị. Và chỉ trong 2 tháng mùa đông cuối năm 1946 – đầu năm 1947, những cản trở và khó khăn trên mới giảm đi phần nào, để Hà Nội thật sự là chính nó, một đô thị đúng nghĩa. Hà Nội đã tạo ra một cuộc chiến tranh tôn thờ cái đẹp, tôn thờ sự lãng mạn. Hà Nội đã đánh dấu nền tảng đô thị của chính mình – vùng đất của trí thức và tiểu tư sản.

Những điều mình viết là cảm nhận của mình từ ngày xửa ngày xưa. Hôm qua, mình đọc lại tác phẩm từ đầu đến cuối. Tất cả những giá trị cũ đều vẫn tồn tại và vẫn đẹp nhưng mình chẳng còn cảm thấy dạt dào được như xưa. Mình chẳng còn hào hứng với những Trần Văn, Nhật Tân, Oanh và mọi người mấy. Mình chỉ thấy đồng cảm với Tân, đặc biệt qua những gì anh nói với Nhật Tân và Lu lu trong đêm sát ngày nổ súng. Mình xin trích dẫn lại một vài đoạn văn trong chương 19 của tác phẩm.

Từ những đoạn đầu tiên khi Nhật Tân nói Tân về suy nghĩ cá nhân của mình về sự tự do :

– Tao là một người tự do, nghĩa là tao chỉ nghe có một người, ấy là tao. Chỉ có một người quyết định được cho tao, ấy là tao. Tao làm khi nào tao muốn. Cái nhà này là của ông cụ tao, nhưng sau khi ông cụ cho tao, sang tên hẳn hoi rồi, tao cấm ông cụ không được đến, ông cụ cũng phải chịu cơ mà. Tao là thế.

– Tao không muốn xâm phạm đến quyền tự do của ai cả. Còn mày bắt thì cứ việc bắt, đó là quyền tự do của mày. Nói tóm lại con người là phải hoàn toàn tự do. Ăn uống, may mặc, chơi gái.

Rồi đến những dự cảm của Tân về tương lai sẽ tới (với sự thực đã được thời gian kiểm chứng):

– Mày uống đi, uống cạn đi rồi chia tay nhau. Tao rất thương mày, thương hơn tao nữa. Tao không biết mày đúng hay tao sai, hay ngược lại. Nhưng có lẽ mày đúng, vì mày là zéro (5). Còn tao không phải là zéro thì đi với Việt Minh để làm gì? Tao muốn nói cái tụi Việt Minh chính cống, tụi Việt Minh cộng sản, chứ không nói cái hạng Việt Minh léng téng, loại Việt Minh như mày? Uống đi.

Họ cùng cạn cốc. Tân vứt cái cốc xuống sàn, vỡ tan tành:

– Tao đi với Việt Minh rồi thì cũng thế này thôi. Nghĩa là đánh xong Pháp, thì đến lượt chúng tao bị họ làm cỏ, của cải, họ đem chia. Đấy rồi mày xem, có đúng không. Buồn lắm, Nhật Tân ạ. Có lẽ mày không bao giờ thương tao cả.

Trong giờ phút mà con người chẳng thể tự định đoạt vận mệnh của mình, Tân đã đưa ra những ý niệm rất cá nhân về cái đẹp :

– Cái phần đẹp nhất của con người lại là ở chỗ con vật. Hết con vật thì không còn con người. Nhưng không cãi nữa. Nên trọng tự do của nhau thôi. Mày đến chơi, tốt, ăn uống với tao, tốt, muốn có gái chơi, được, tiền tha hồ. Nhưng đừng tuyên truyền. Nhật Tân ơi. Tao có được nhẹ nhõm như mày đâu. Mày đã đứng hẳn về một phía, còn tao…

Tân cũng trải lòng suy nghĩ về người bạn và những người đồng chí của bạn cùng các hoạt động của tổ chức (mình không phán xét trong trường hợp này) :

– Đã nói hết chưa? Nói hết chưa? Chưa hết thì nói đi, thằng bạn học đòi vẹm của tôi ơi! Sao chúng mày khoẻ tuyên truyền thế, tuyên truyền cả trong tình bằng hữu, đem cả Tổ quốc ra để thoả thích cái thói quen, cái tật tuyên truyền của chúng mày. Bao giờ thì chúng mày im đi và thật thà hơn một chút? Nhật Tân này, mày còn khá đấy, chưa nặng lắm, nhưng phải coi chừng. Ừ. Mày là thằng bạn thân của tao, sao mày không nói với tao như ngày trước, mà phải làm ồn ào như thế. Sao mày lại phải tuyên truyền tao? Những thằng đi tuyên truyền tao? Những thằng đi tuyên truyền thường coi người mà chúng nó tuyên truyền là ngu hết. Tao không muốn thế. Tao muốn là tao, tao nghe tao, tao quyết định lấy tao. Đừng nói nữa. Hay mày cứ nói đi, vì mày có quyền tự do nói, nhưng để mà tao không nghe.

Để rồi cuối cùng là những cầu chúc trong tuyệt vọng, muốn níu kéo bạn mình mà không thể của Tân :

mqdefault

Tân vỗ vai Nhật Tân, kéo vào ngồi xuống ghế, lại rót hai cốc rượu, đưa cho bạn một. Anh ngồi trên cái tay vịn, nhìn Nhật Tân mắt đã đỏ ngầu:

– Uống đi rồi về. Mày thương lấy tao, chứ đừng giận tao, đừng trách tao. Nếu như chốc nữa, hay ngày mai, ngày kia tao nghĩ lại, thì là vì, vì mày, chứ không vì cái gì cả. Có cần gì không? Súng đấy, cầm lấy, tao mua cho mày đấy, đừng có khách khí nữa, vì tao biết chúng mày có cái gì đâu mà đánh Tây. Tao có một khẩu súng của tao rồi, để tao tự xử. Cần gì nữa? Tiền? Tao biết hỏi thế mày tự ái, nhất là lúc này, nhưng khách sáo gì nữa mày và tao. Thuốc lá, lấy mấy tút đi. Tao trữ hàng tháng, hút liên miên không hết, để lấy nó thay cho mày đấy. Mày đánh thay tao vậy. Tao giúp mày là vì thế.

Tân vào phòng, rồi trở ra, ôm một bọc thuốc lá, cúi xuống bàn cầm khẩu súng mà Nhật Tân còn để đấy, đưa cả súng và thuốc lá cho Nhật Tân. Anh nắm lấy tay bạn:

– Mày đừng chết nhớ.

Tân đến ôm con Lu lu:

– Cả mày nữa, đừng chết nhớ.

Nhật Tân nói:

– Được. Tao lấy tất cả những thứ này. Nhưng tao không chịu ơn mày.

images148510_5Mình không muốn lật lại lịch sử vì mỗi cá nhân có những góc nhìn riêng và chúng ta đều có quyền tôn trọng sự đa dạng. Sự thừa thãi là điều tất nhiên nếu tiếp tục khen ngợi vẻ đẹp của giai đoạn chiến đấu này vì dường như đây là thời kỳ cách mạng đẹp nhất, trọn vẹn và lãng mạn nhất, khi mà cụ Hồ chưa bị tác động và gặp nhiều sự cản trở từ đệ tam quốc tế. Trong mắt tôi, cụ là người cấp tiến chứ không phải người bảo thủ.

Quay về tiêu đề đầu bài, mình có một câu hỏi :”Liệu có thể có sự tự do cho một tập thể khi không có sự tự do ý chí trong từng cá thể?”. Nhật Tân, Trần Văn và những đồng chí của họ luôn tin tưởng đi theo lý tưởng của cá nhân mình là hướng về cách mạng, hướng về tổ quốc nhưng chính bản thân họ vẫn có những sự nghi ngờ đối với bản thân trong quá trình dân vận chuẩn bị kháng chiến (điều này có thể gặp ở nhiều chương trong tác phẩm). Họ có sự tự do trong ý thức cá nhân không? Còn với Tân, anh hoàn toàn tự do với suy nghĩ, ý thức của mình. Có thể sẽ nhiều người nhận định anh ích kỷ cá nhân, đua đòi lối sống tư sản nhưng rõ ràng, anh không thỏa hiệp với thứ mình không tin tưởng. Anh tin vào suy nghĩ và nhận định của mình. Anh không thể dòng chảy xã hội tác động lên anh quá nhiều (anh vẫn có sự ủng hộ về vật chất như súng, thuốc lá). Anh không bỏ trốn, không đầu hàng nhưng chọn cách đứng men vào lề của dòng chảy lịch sử, chờ đợi những điều có thể xảy đến với mình. Trong những giờ phút chuyển giao đầy nguy hiểm mà mỗi sai lầm không gì sửa chữa nổi, anh vẫn lựa chọn những thứ mình muốn như việc ủng hộ Nhật Tân những thứ bạn cần hay bữa ăn với những người xa lạ trước giờ nổ súng. Và còn rất nhiều hành động nữa của Tân mà trong bài viết này tôi chẳng thể kể hết. Đó phải chăng chính là sự tự do ý chí?

Không có gì quý hơn độc lập – tự do. Độc lập với ai? Tự do với điều gì? Độc lập – Tự do cá nhân và Độc lập – Tự do dân tộc, điều gì quan trọng hơn? Với suy nghĩ cá nhân, mình ưu tiên dân tộc, dù mình đồng cảm sâu sắc với Tân. Khi đất nước bị mất quyền độc lập – tự do, tất cả mọi thứ độc lập – tự do cá nhân chẳng mang lại nhiều giá trị. Nhưng khi đất nước đã độc lập – tự do, giờ đã đến lúc mỗi cá nhân cần sự độc lập – tự do cho tinh thần của mình?

Ta hay mong muốn cuộc đời cho ta một bạn kì lân, nhưng đôi khi thực tế phũ phàng chỉ mang đến cho ta một chú dê non một sừng. Cách tốt nhất để một xã hội tiến lên trong thời chiến là tất cả cùng tập trung vào một số mục tiêu nhất định, nâng cao ý thức tập thể và hạ thấp vai trò cá nhân. Nhưng điều đó có còn đúng trong thời hòa bình, điều chúng ta đã có hơn bốn mươi năm trước?

Những điều sơ sài mình nêu ra chỉ là chút suy nghĩ cá nhân và sẽ có những điểm chưa được mọi người đồng thuận, mong là sẽ nhận được góp ý từ mọi người.

 

Viết cho có.

“Cõi phù sinh như hình vạn ảnh”

Hình như từ 300 năm trước, Nguyễn Du đã mường tượng ra được sự tồn tại của một loại sinh vật trôi nổi phù phiếm, có khả năng siêu phàm là chụp vạn tấm ảnh và chọn một tấm mình tâm đặc nhất. Tấm ảnh đó sẽ được up lên các mạng xã hội để có được nghìn likes, dăm chục comment…

Nguyễn Du quả thiệt là có cái nhìn đi trước thời đại, ông có những cụm từ rất mới, rất đắt. Ví dụ như cụm từ “Người tình không” trong truyện Kiều để nói về Đạm Tiên, mà đến gần thế kỷ 20 mới thấy xuất hiện trong văn học :

“Sống làm vợ khắp người ta,

Đến khi thác xuống ra người tình không”

Đạm Tiên có lẽ cũng còn xa mới so được với những người tình của Dumas, Duras, Hugo … nhưng ít nhất về danh xưng, nàng đã có thể sánh cùng với những người tình thế kỷ. Đó là sự yêu thương, bù đắp mà Nguyễn Du đã dành được cho nhân vật của mình.

Chúng ta đã/có thể làm gì để bù đắp cho chúng ta, so với những thiệt thòi của chúng ta với những cái đẹp và tinh hoa của thế giới hiện đại?

(còn nữa)