Loa phường, chào nhé!

Chuyện kể rằng cách đây gần 25 năm về trước, khi ông nội còn sống, có một đoạn nói chuyện của ông với thằng cháu như sau :

  • Ông : Đố Tôm biết, thứ gì của con gà bỏ đi thì tiếc mà ăn thì cũng chẳng ngon lành gì?
  • Tôm : Phao câu ạ?
  • Ông : Không phải.
  • Tôm : Mào gà ạ?
  • Ông : Không phải.
  • Tôm : Chân gà ạ?
  • Ông : Gần đúng!
  • Tôm : Cháu chịu.
  • Ông : Đáp án là “gân gà”.

Đọc đoạn hội thoại này, hẳn ai hâm mộ Tam Quốc đều biết ông tôi là fan ruột của nhất đại kỳ thư Tàu khựa. Tôi nhớ lại đoạn nói chuyện này của hai ông cháu vì hôm nay trên Vnexpress có bài viết này : http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ha-noi-dung-phat-loa-phuong-hang-ngay-tai-4-quan-cu-3622054.html

Trong suy nghĩ của tôi, cái loa phường cũng như gân gà, bỏ đi thì tiếc mà ăn thì cũng chẳng ngon lành, vui vẻ gì. Thôi thì giữ được thì cố mà giữ, nhưng hôm nay người ta bỏ đi rồi.

Để cho những thứ không hay về loa phường thì hôm nay đã quá nhiều gạch đá rồi, mình đồng tình và cũng chẳng chê thêm nữa. Có những thứ làm mình bâng khuâng tiếc nuối ở đây, nó là những kỉ niệm, những trải nghiệm.

Loa phường trong ý niệm của mình là “Nhớ về Hà Nội” lúc sáng sớm của giọng Hồng Nhung, là “Nhớ mùa thu Hà nội”, là “Có phải em mùa thu Hà Nội” lúc chiều tà. Bạn mình có lần bảo mình “Hình như mỗi phường ở Hà Nội sẽ phát những bài hát riêng”, có lẽ mình sẽ không có dịp để check rồi.

Loa phường cũng là nơi để thông báo nhiều việc của phường, từ tiêm người tới tiêm chó, từ thông báo khám nghĩa vụ thanh niên cho tới khám sức khỏe người già, rồi thông báo nhận lương hưu với bầu cử …

Loa phường như là một biểu tượng của chế độ XHCN tập trung miền Bắc, cũng như hình ảnh cột đèn trong tranh Hà Nội của Bùi Xuân Phái, như chữ Vạn trong Phật giáo hay cây Thập Giá trong đạo Thiên Chúa.

Loa phường là thứ để những bạn bè của mình nhìn vào và nhớ hồi thơ ấu. Đó là việc đánh thức mọi người một cách vô ý vào sáng sớm. Đó là những tiếng”UUUUUuuuu..” kéo dài, mang lại cảm giác khó chịu, tương tự như tiếng báo động máy bay cho đồng bào thủ đô những năm không quân Mỹ còn oanh tạc Hà Nội.

Loa phường là nơi thu thập và tiếp nhận thông tin của các cụ già ở đầu phố, bên chén trà nóng có giá 200đ (1993) tới giá hiện thời là 3000đ – 5000đ.

Loa phường cũng có lúc vô ý phát ra những âm thanh lạ trong phòng phát thanh khi người ta không để ý, bấm nhầm cái nút gì đó.

Loa phường là thứ luôn gắn liền với cột điện.

Đấy, nếu không bỏ thì cũng chẳng có gì mà nghĩ đâu. Nhưng vì bỏ rồi nên có vài suy nghĩ mông lung và vớ vẩn.

Thời gian cứ trôi, mọi thứ đều sẽ mất mát, phải không?

loa_phuong_UBLT

Nguồn : https://www.facebook.com/nhungcamxuctrongveo/

Advertisements

Bất định có phải cuộc đời không em?

Những thứ hiếm hoi thường quý giá (trừ con gái học ngành kỹ thuật – đùa đấy!). Người ta thường phấn đấu, cố gắng để đạt được và hạnh phúc khi như ý. Nhưng cũng có những trải nghiệm bình dị mà lớn lao, giản đơn mà ý nghĩa. Đó có thể là việc ngồi ngắm những cơn giông, cơn gió kèm sấm, chớp trước cơn mưa. Đó cũng là việc chạy nhưng bay trong cơn mưa tầm tã. Đó cũng có thể là ngồi ở một ngã ba tù mù đèn, nước nhỏ long tong qua những lỗ thủng trên chiếc bạt cũ, ngắm dòng người hối hả lại qua.

Đâu là sự bất định trong cái thành phố này? Chắc hẳn không phải việc ngồi ngắm những cơn giông, cơn gió trước cơn mưa. Hay dù có phải chạy như bay trong cơn mưa tầm tã để ướt từ đỉnh đầu lơ thơ tóc đến gót giày, nếu vẫn biết quán quen ở đâu và đèn quán vẫn chưa tắt, đó cũng chẳng phải là bất định? Hay đó là mỗi câu chuyện của mỗi người trong quán ăn, thay vì ăn bữa cơm gia đình thì lại dùng tạm một bát phở bên ngoài giữa cơn giông cuối hạ? Liệu còn điều gì bất định và buồn hơn không?

Đó có phải là việc những bạn 26.5 điểm trượt ĐH Ngoại Thương, 27 điểm trượt ĐH Y Hà Nội? Buồn lắm, nhưng mà rồi sẽ có cách sắp xếp phải không? Điểm số chưa hẳn là thước đo của tài năng. Thiếu chút xíu nguyện vọng 1 thì ta vào nguyện vọng 2. Không vào được Y Hà Nội thì vào Quân Y. Người giỏi thì ở đâu và làm gì cũng giỏi nhỉ? Đâu nhất thiết học Ngoại Thương mới giỏi về kinh tế. Đâu nhất thiết học Y Hà Nội mới trở thành những lương y có ích trong cuộc đời. Tuổi trẻ lúc nào cũng đẹp đến đau lòng?

Vậy bất định có phải là việc những kì thi đại học luôn đưa ra những phương án cuối cùng vào sát ngày thi? Hay bất định là việc chẳng có một cơ sở rõ ràng nào để tính toán nhằm chọn trường đại học cho phù hợp với sức học? Hay đó là việc viết một cuốn sách bày tỏ suy tư cá nhân, để rồi một ông nào đó lấy ra một đoạn để chọn làm đề thi đại học và hứng muôn vàn gạch đá chỉ trích đầy cay nghiệt? Hay đó là việc lúc ở bên ta, lúc ra bên địch?

Tuổi trẻ vẫn vậy, luôn là một bầu trời trong lành thấm đẫm hương hoa mà ai đã trải qua đều mong có một lần được quay trở lại.

Buồn nhỉ? Chẳng ai có thể tắm hai lần ở một dòng sông!

Nhưng người ta sẽ có thể dính hai cơn mưa khác nhau khi đi một chặng đường trong lòng phố thị.

19554255_477829325891727_3911894332638579405_n

(ảnh sưu tầm)

Nguồn : Trong Veo

Bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình

chien-sy-giai-phong-va-nguoi-linh-viet-nam-cong-hoa-trong-buc-anh-khoac-vai-nhau-gio-ra-sao-0

(ảnh sưu tầm)

Buổi sáng tôi mặc áo đi giày
ra đứng ngoài đường
Gió thổi những bông nứa trắng bên sông
Mùi tóc khô còn thơm lúa mùa qua
Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
Những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
Tôi yêu đất nước này như thế
Mỗi buổi mai
Bầy chim sẻ ngoài sân
Gió mát và trong
Đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng
Tôi vẫn sống
vẫn ăn
vẫn thở
như mọi người

Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
Một vết bùn khô trên mặt đá
Không có ai chia tay
Cũng nhớ một tiếng còi tàu.
Mẹ tôi thức khuya dậy sớm
Năm nay ngoài năm mươi tuổi
Chồng chết đã mười mấy năm
Thuở tôi mới đọc được i tờ
Mẹ thương tôi mẹ vẫn tảo tần
Nước sông gạo chợ
Ngày hai buổi nhà không khi nào vắng người đòi nợ
Sống qua ngày nên phải nghiến răng
Cũng không vui nên mẹ ít khi cười
Những buổi trưa buổi tối
Ngồi một mình hay khóc
Vẫn thở dài mà không nói ra
Thương con không cha
Hẩm hiu côi cút

Tôi yêu đất nước này xót xa
Mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng
Thương tôi nên ở goá nuôi tôi
Những đứa nhà giàu hằng ngày chửi bới
Chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc,
như cho một đứa hủi
Ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới
Thắp ba cây hương
Với mấy bông hải đường
Mẹ tôi khóc thút thít
Cầu cha tôi phù hộ tôi nên người
Con nó còn nhỏ dại
Trí chưa khôn chân chưa vững bước đi
Tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng

Tôi yêu đất nước này cay đắng
Những năm dài thắp đuốc đi đêm
Quen thân rồi không ai còn nhớ tên
Dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng
Áo mồ hôi những buổi chợ về
Đời cúi thấp
Giành từng lon gạo mốc,
Từng cọng rau hột muối
Vui sao khi con bữa đói bữa no
Mẹ thương con nên cách trở sông đò
Hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc
Đêm nào mẹ cũng khóc
Đêm nào mẹ cũng khấn thầm
Mong con khôn lớn cất mặt với đời

Tôi yêu đất nước này khôn nguôi
Tôi yêu mẹ tôi áo rách
Chẳng khi nào nhớ tuổi mình bao nhiêu.
Tôi bước đi
Mưa mỗi lúc mỗi to,
Sao hôm nay lòng thấy chật
Như buổi sáng mùa đông chưa thấy mặt trời mọc
Con sông dài nằm nhớ những chặng rừng đi qua
Nỗi mệt mỏi, rưng rưng từng con nước
Chim đậu trên cành chim không hót
Khoảng vắng mùa thu ngủ trên cỏ may

Tôi yêu đất nước này những buổi mai
Không ai cười không tiếng hát trẻ con
Đất đá cỏ cây ơi
Lòng vẫn thương mẹ nhớ cha
Ăn quán nằm cầu
Hai hàng nước mắt chảy ra
Mỗi đêm cầu trời khấn phật, tai qua nạn khỏi

Tôi yêu đất nước này áo rách
Căn nhà dột phên không ngăn nổi gió
Vẫn yêu nhau trong từng hơi thở
Lòng vẫn thương cây nhớ cội hoài
Thắp đèn đêm ngồi đợi mặt trời mai

Tôi yêu đất nước này như thế
Như yêu cây cỏ ở trong vườn
Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương
Nuôi tôi thành người hôm nay
Yêu một giọng hát hay
Có bài mái đẩy thơm hoa dại
Có sáu câu vọng cổ chứa chan
Có ba ông táo thờ trong bếp
Và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen

Tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
Thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò
Áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
Trong bước chân chim sẻ
Ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi
Hay nói chuyện huyên thuyên
Chuyện trên trời dưới đất rất lạ
Chuyện bông hoa mọc một mình trên đá
Cứ hay cười mà không biết có người buồn.
Sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn
Khi xa nhà vẫn muốn ngoái lại
Ngó cây cam cây vải
Thương mẹ già như chuối ba hương
Em chưa buồn
Vì chưa rách áo

Tôi yêu đất nước này rau cháo
Bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu
Áo đứt nút qua cầu gió bay
Tuổi thơ em hãy giữ cho ngoan

Tôi yêu đất nước này lầm than
Mẹ đốt củi trên rừng cha làm cá ngoài biển
Ăn rau rìu rau éo rau trai
Nuôi lớn người từ ngày mở đất
Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật
Một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ
Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh Gióng.

Tôi đi hết một ngày
Gặp toàn người lạ
Chưa ai biết chưa ai quen
Không biết tuổi không biết tên
Cùng sống chung trên đất
Cùng nỗi đau chia cắt Bắc Nam
Cùng có chung tên gọi Việt Nam
Mang vết thương chảy máu ngoài tim
Cùng nhức nhối với người chết oan ức
Đấm ngực giận hờn tức tối
Cùng anh em cất cao tiếng nói
Bản tuyên ngôn mười bốn triệu người đòi độc lập tự do
Bữa ăn nào cũng phải được no
Mùa lạnh phải có áo ấm
Được nói cười hát ca yêu đương không ai cấm
Được thờ cúng những người mình tôn kính
Hai mươi năm cuộc đời chưa khi nào định.

Tôi trở về căn nhà nhỏ
Đèn thắp ngọn lù mù
Gió thổi trong lá cây xào xạc
Vườn đêm thơm mát
Bát canh rau dền có ớt chìa vôi
Bên hàng xóm có tiếng trẻ con khóc
Mẹ bồng con lên non ngồi cầu Ái tử
Đất nước hôm nay đã thấm hồn người
Ve sắp kêu mùa hạ
Nên không còn mấy thu
Đất nước này còn chua xót
Nên trông ngày thống nhất
Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam
Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc
Lòng vui hôm nay không thấy chật
Tôi yêu đất nước này chân thật
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
Và yêu tôi đã biết làm người
Cứ trông đất nước mình thống nhất.


19/12/1967
Trần Vàng Sao

Jean-Paul Sartre & Albert Camus

Văn học Pháp thế kỷ XX đã để lại nhiều dấu ấn lên nền văn học thế giới. Thơ có những thanh điệu trong sáng, cao sang từ Aragon, Apollinaire… Kịch có những tác phẩm để đời từ Claudel, Beckett… Nhưng nổi bật nhất trong nền văn học Pháp thế kỷ XX là tiểu thuyết với hàng loạt trào lưu đa dạng.

Chúng ta gặp những người mở đường như Produst, Rolland. Chúng ta gặp những con người ở giữa truyền thống và sự cách tân như Barbusse, Antonie de Saint-Exupery và cả Aragon. Chúng ta gặp các nhà sáng tạo ngôn ngữ như Vian, Perec, … Chúng ta gặp các nhà tiểu thuyết mới như Robbe-Grillet, Simon … Nhưng trong bài viết này, mình muốn nhắc tới chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Pháp thế kỷ XX, với hai đại diện tiêu biểu là Albert Camus và Jean-Paul Sartre cùng giao tình của họ.

Sartre (21/06/1905 – 15/04/1980) sinh trước nhưng thọ hơn Camus (07/11/1913 – 04/01/1960). Sartre được đào tạo bài bản và chính quy hơn so với Camus, Sartre là dân cao đẳng triết rồi tiến lên học vị tiến sỹ còn Camus chỉ học hết đại học về triết. Sartre được tôn sùng tại Pháp là bậc thầy về chủ nghĩa hiện sinh còn Camus đã có những lúc phủ nhận tinh thần hiện sinh trong tư tưởng và tác phẩm của mình. Phải chăng vì thế nên người ta hay nhìn Sartre dưới góc độ là một nhà tư tưởng khi nói về hiện sinh còn Camus được nhìn dưới góc độ rộng hơn thế, một người nghệ sỹ khi trình bày các hiện sinh luận điểm.

Nguồn gốc của hai người rất khác nhau. Sartre mang nguồn gốc tư sản Paris còn Camus chỉ là con của một người mẹ là thợ hầm lò. Sartre được tạo điều kiện nhiều hơn Camus trong việc học tập và nghiên cứu nhưng có lẽ vì thế, những giá trị Camus đạt được có phần vĩ đại hơn một chút so với Sartre. Camus được trao giải Nobel năm 1960 còn Sartre được trao giải Nobel năm 1964 nhưng ông đã từ chối. Có người bảo là Sartre ganh tỵ với Camus vì Camus được trao giải trước nên không nhận giải. Có người bảo là ông từ chối nhận giải vì không muốn mình biến thành một thiết chế xã hội ảnh hưởng đến công việc hoạt động chính trị cấp tiến. Lý do thì có nhiều nhưng sự thật đến giờ vẫn chưa ai biết.

Cả hai vĩ nhân Pháp quốc đều dấn thân rất sâu vào con đường chính trị nhưng đường lối của Sartre thường tạo sự bất ngờ cho những người quan tâm hơn. Họ cùng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những cuộc chiến tranh đương thời, cá biệt là Sartre từng tham gia chống Phát xít và bị cầm tù.

Còn rất nhiều điều mình muốn kể thêm nhưng mình buồn ngủ quá. Điều cuối cùng mình muốn kể là họ rất yêu thương nhau, coi trọng nhau chứ không như lời đồn đoán độc miệng của thiên hạ. Họ tôn trọng và yêu quý nhau còn hơn cả tình cảm mà Ronaldo và Messi dành cho nhau trong thời điểm hiện tại. Hãy đọc bài điếu văn của Sartre trước mộ Camus, chúng ta sẽ hiểu điều đó.

Và câu hỏi không liên quan nhất trong bài :

Đâu là cảm giác sống động nhất trong khoảnh khắc hiện sinh?

Ảnh mình họa không liên bài viết : Cuốn Ngôn Từ được mới được Nhã Nam xuất bản lại.

IMG_20170726_014521_1501008363226

Nguồn bài viết : https://www.facebook.com/nhungcamxuctrongveo/

Tự Do Ý Chí

Mỗi cuốn sách, mỗi tác phẩm đều cho ta những cảm nhận khác nhau trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kì.

Cách đây nhiều năm, mình đọc “Sống mãi với Thủ Đô” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, mình luôn cảm nhận được sự nhiệt huyết trong lý tưởng của nhà văn. Chủ nghĩa lãng mạn hòa cùng tinh thần anh hùng cách mạng được làm nổi bật trong tình yêu dân tộc, yêu đất nước và tinh thần “Quyết Tử Để Tổ Quốc Quyết Sinh”. mod20131218_tdtd1Tất cả những sự duy mỹ cá nhân được hòa cùng nhau để làm nên một cái đẹp tổng thể, cái đẹp của một trận chiến đậm màu trí thức tư sản. Những Trần Văn, Nhật Tân, những người thợ hay những chàng trai, cô gái Hà Nội dù khác nhau về nguồn gốc, giai cấp những đã sát cánh cùng nhau vì một mục đích cao cả. Chẳng còn sự phân biệt giữa người thị dân, người công nhân, người làm thuê, … Tất cả đều là người đô thị. Họ là những vệ quốc quân của Trung Đoàn Thủ Đô bất tử. Họ là những cảm tử quân cùng cây bom ba càng.  Họ là những dân quân tự vệ tự xây hào đắp lũy bằng của cải tư gia, tạo công sự bằng ha_noi_1946 việc đục tường các nhà trong phố, ở nơi ngàn năm luôn được coi là “phi chiến địa”. Họ chẳng tiếc mạng sống của mình, chẳng tiếc tuổi thanh xuân. Tất cả vì cuộc chiến trường kỳ phía trước, và trên hết là vì cái đẹp và sự lãng mạn. Chủ nghĩa lãng mạn có thể đã chết khi chủ nghĩa duy lý ra đời nhưng sự lãng mạn luôn tồn tại trên mặt đất, nơi vẫn còn tồn tại ý chí con người.

Đô thị không chỉ đi liền với cái đẹp, với mỹ cảm mà còn gắn liền với những bất định, những vong thân. Bên cạnh những mỹ cảm thị dân là những sự trống rỗng, tan vỡ, rời rạc trước những sự biến đổi không ngừng. Đứng dưới góc nhìn cá nhân, dường như Hà Nội không hẳn là một đô thị đúng nghĩa khi những biến động thường diễn ra từ biến động quốc gia, từ an nguy dân tộc với những cuộc chiến tranh nhân dân với kế hoạch “vườn không nhà trống”. Hà Nội dường như chỉ mang đặc tính “nửa đô thị – nửa làng” khi mọi thứ biến động luôn ít được ủng hộ, thương mại tự do không thường xuyên được tạo điều kiện (nhiều giai đoạn từ thời phong kiến cho tới 1986 còn bị cấm đoán), tư hữu cá nhân luôn gặp nhiều cái khó. Hà Nội luôn bị nghi ngờ trong những khắc giao thời, trong những cuộc chuyển giao về chính trị. Và chỉ trong 2 tháng mùa đông cuối năm 1946 – đầu năm 1947, những cản trở và khó khăn trên mới giảm đi phần nào, để Hà Nội thật sự là chính nó, một đô thị đúng nghĩa. Hà Nội đã tạo ra một cuộc chiến tranh tôn thờ cái đẹp, tôn thờ sự lãng mạn. Hà Nội đã đánh dấu nền tảng đô thị của chính mình – vùng đất của trí thức và tiểu tư sản.

Những điều mình viết là cảm nhận của mình từ ngày xửa ngày xưa. Hôm qua, mình đọc lại tác phẩm từ đầu đến cuối. Tất cả những giá trị cũ đều vẫn tồn tại và vẫn đẹp nhưng mình chẳng còn cảm thấy dạt dào được như xưa. Mình chẳng còn hào hứng với những Trần Văn, Nhật Tân, Oanh và mọi người mấy. Mình chỉ thấy đồng cảm với Tân, đặc biệt qua những gì anh nói với Nhật Tân và Lu lu trong đêm sát ngày nổ súng. Mình xin trích dẫn lại một vài đoạn văn trong chương 19 của tác phẩm.

Từ những đoạn đầu tiên khi Nhật Tân nói Tân về suy nghĩ cá nhân của mình về sự tự do :

– Tao là một người tự do, nghĩa là tao chỉ nghe có một người, ấy là tao. Chỉ có một người quyết định được cho tao, ấy là tao. Tao làm khi nào tao muốn. Cái nhà này là của ông cụ tao, nhưng sau khi ông cụ cho tao, sang tên hẳn hoi rồi, tao cấm ông cụ không được đến, ông cụ cũng phải chịu cơ mà. Tao là thế.

– Tao không muốn xâm phạm đến quyền tự do của ai cả. Còn mày bắt thì cứ việc bắt, đó là quyền tự do của mày. Nói tóm lại con người là phải hoàn toàn tự do. Ăn uống, may mặc, chơi gái.

Rồi đến những dự cảm của Tân về tương lai sẽ tới (với sự thực đã được thời gian kiểm chứng):

– Mày uống đi, uống cạn đi rồi chia tay nhau. Tao rất thương mày, thương hơn tao nữa. Tao không biết mày đúng hay tao sai, hay ngược lại. Nhưng có lẽ mày đúng, vì mày là zéro (5). Còn tao không phải là zéro thì đi với Việt Minh để làm gì? Tao muốn nói cái tụi Việt Minh chính cống, tụi Việt Minh cộng sản, chứ không nói cái hạng Việt Minh léng téng, loại Việt Minh như mày? Uống đi.

Họ cùng cạn cốc. Tân vứt cái cốc xuống sàn, vỡ tan tành:

– Tao đi với Việt Minh rồi thì cũng thế này thôi. Nghĩa là đánh xong Pháp, thì đến lượt chúng tao bị họ làm cỏ, của cải, họ đem chia. Đấy rồi mày xem, có đúng không. Buồn lắm, Nhật Tân ạ. Có lẽ mày không bao giờ thương tao cả.

Trong giờ phút mà con người chẳng thể tự định đoạt vận mệnh của mình, Tân đã đưa ra những ý niệm rất cá nhân về cái đẹp :

– Cái phần đẹp nhất của con người lại là ở chỗ con vật. Hết con vật thì không còn con người. Nhưng không cãi nữa. Nên trọng tự do của nhau thôi. Mày đến chơi, tốt, ăn uống với tao, tốt, muốn có gái chơi, được, tiền tha hồ. Nhưng đừng tuyên truyền. Nhật Tân ơi. Tao có được nhẹ nhõm như mày đâu. Mày đã đứng hẳn về một phía, còn tao…

Tân cũng trải lòng suy nghĩ về người bạn và những người đồng chí của bạn cùng các hoạt động của tổ chức (mình không phán xét trong trường hợp này) :

– Đã nói hết chưa? Nói hết chưa? Chưa hết thì nói đi, thằng bạn học đòi vẹm của tôi ơi! Sao chúng mày khoẻ tuyên truyền thế, tuyên truyền cả trong tình bằng hữu, đem cả Tổ quốc ra để thoả thích cái thói quen, cái tật tuyên truyền của chúng mày. Bao giờ thì chúng mày im đi và thật thà hơn một chút? Nhật Tân này, mày còn khá đấy, chưa nặng lắm, nhưng phải coi chừng. Ừ. Mày là thằng bạn thân của tao, sao mày không nói với tao như ngày trước, mà phải làm ồn ào như thế. Sao mày lại phải tuyên truyền tao? Những thằng đi tuyên truyền tao? Những thằng đi tuyên truyền thường coi người mà chúng nó tuyên truyền là ngu hết. Tao không muốn thế. Tao muốn là tao, tao nghe tao, tao quyết định lấy tao. Đừng nói nữa. Hay mày cứ nói đi, vì mày có quyền tự do nói, nhưng để mà tao không nghe.

Để rồi cuối cùng là những cầu chúc trong tuyệt vọng, muốn níu kéo bạn mình mà không thể của Tân :

mqdefault

Tân vỗ vai Nhật Tân, kéo vào ngồi xuống ghế, lại rót hai cốc rượu, đưa cho bạn một. Anh ngồi trên cái tay vịn, nhìn Nhật Tân mắt đã đỏ ngầu:

– Uống đi rồi về. Mày thương lấy tao, chứ đừng giận tao, đừng trách tao. Nếu như chốc nữa, hay ngày mai, ngày kia tao nghĩ lại, thì là vì, vì mày, chứ không vì cái gì cả. Có cần gì không? Súng đấy, cầm lấy, tao mua cho mày đấy, đừng có khách khí nữa, vì tao biết chúng mày có cái gì đâu mà đánh Tây. Tao có một khẩu súng của tao rồi, để tao tự xử. Cần gì nữa? Tiền? Tao biết hỏi thế mày tự ái, nhất là lúc này, nhưng khách sáo gì nữa mày và tao. Thuốc lá, lấy mấy tút đi. Tao trữ hàng tháng, hút liên miên không hết, để lấy nó thay cho mày đấy. Mày đánh thay tao vậy. Tao giúp mày là vì thế.

Tân vào phòng, rồi trở ra, ôm một bọc thuốc lá, cúi xuống bàn cầm khẩu súng mà Nhật Tân còn để đấy, đưa cả súng và thuốc lá cho Nhật Tân. Anh nắm lấy tay bạn:

– Mày đừng chết nhớ.

Tân đến ôm con Lu lu:

– Cả mày nữa, đừng chết nhớ.

Nhật Tân nói:

– Được. Tao lấy tất cả những thứ này. Nhưng tao không chịu ơn mày.

images148510_5Mình không muốn lật lại lịch sử vì mỗi cá nhân có những góc nhìn riêng và chúng ta đều có quyền tôn trọng sự đa dạng. Sự thừa thãi là điều tất nhiên nếu tiếp tục khen ngợi vẻ đẹp của giai đoạn chiến đấu này vì dường như đây là thời kỳ cách mạng đẹp nhất, trọn vẹn và lãng mạn nhất, khi mà cụ Hồ chưa bị tác động và gặp nhiều sự cản trở từ đệ tam quốc tế. Trong mắt tôi, cụ là người cấp tiến chứ không phải người bảo thủ.

Quay về tiêu đề đầu bài, mình có một câu hỏi :”Liệu có thể có sự tự do cho một tập thể khi không có sự tự do ý chí trong từng cá thể?”. Nhật Tân, Trần Văn và những đồng chí của họ luôn tin tưởng đi theo lý tưởng của cá nhân mình là hướng về cách mạng, hướng về tổ quốc nhưng chính bản thân họ vẫn có những sự nghi ngờ đối với bản thân trong quá trình dân vận chuẩn bị kháng chiến (điều này có thể gặp ở nhiều chương trong tác phẩm). Họ có sự tự do trong ý thức cá nhân không? Còn với Tân, anh hoàn toàn tự do với suy nghĩ, ý thức của mình. Có thể sẽ nhiều người nhận định anh ích kỷ cá nhân, đua đòi lối sống tư sản nhưng rõ ràng, anh không thỏa hiệp với thứ mình không tin tưởng. Anh tin vào suy nghĩ và nhận định của mình. Anh không thể dòng chảy xã hội tác động lên anh quá nhiều (anh vẫn có sự ủng hộ về vật chất như súng, thuốc lá). Anh không bỏ trốn, không đầu hàng nhưng chọn cách đứng men vào lề của dòng chảy lịch sử, chờ đợi những điều có thể xảy đến với mình. Trong những giờ phút chuyển giao đầy nguy hiểm mà mỗi sai lầm không gì sửa chữa nổi, anh vẫn lựa chọn những thứ mình muốn như việc ủng hộ Nhật Tân những thứ bạn cần hay bữa ăn với những người xa lạ trước giờ nổ súng. Và còn rất nhiều hành động nữa của Tân mà trong bài viết này tôi chẳng thể kể hết. Đó phải chăng chính là sự tự do ý chí?

Không có gì quý hơn độc lập – tự do. Độc lập với ai? Tự do với điều gì? Độc lập – Tự do cá nhân và Độc lập – Tự do dân tộc, điều gì quan trọng hơn? Với suy nghĩ cá nhân, mình ưu tiên dân tộc, dù mình đồng cảm sâu sắc với Tân. Khi đất nước bị mất quyền độc lập – tự do, tất cả mọi thứ độc lập – tự do cá nhân chẳng mang lại nhiều giá trị. Nhưng khi đất nước đã độc lập – tự do, giờ đã đến lúc mỗi cá nhân cần sự độc lập – tự do cho tinh thần của mình?

Ta hay mong muốn cuộc đời cho ta một bạn kì lân, nhưng đôi khi thực tế phũ phàng chỉ mang đến cho ta một chú dê non một sừng. Cách tốt nhất để một xã hội tiến lên trong thời chiến là tất cả cùng tập trung vào một số mục tiêu nhất định, nâng cao ý thức tập thể và hạ thấp vai trò cá nhân. Nhưng điều đó có còn đúng trong thời hòa bình, điều chúng ta đã có hơn bốn mươi năm trước?

Những điều sơ sài mình nêu ra chỉ là chút suy nghĩ cá nhân và sẽ có những điểm chưa được mọi người đồng thuận, mong là sẽ nhận được góp ý từ mọi người.

 

Viết cho có.

“Cõi phù sinh như hình vạn ảnh”

Hình như từ 300 năm trước, Nguyễn Du đã mường tượng ra được sự tồn tại của một loại sinh vật trôi nổi phù phiếm, có khả năng siêu phàm là chụp vạn tấm ảnh và chọn một tấm mình tâm đặc nhất. Tấm ảnh đó sẽ được up lên các mạng xã hội để có được nghìn likes, dăm chục comment…

Nguyễn Du quả thiệt là có cái nhìn đi trước thời đại, ông có những cụm từ rất mới, rất đắt. Ví dụ như cụm từ “Người tình không” trong truyện Kiều để nói về Đạm Tiên, mà đến gần thế kỷ 20 mới thấy xuất hiện trong văn học :

“Sống làm vợ khắp người ta,

Đến khi thác xuống ra người tình không”

Đạm Tiên có lẽ cũng còn xa mới so được với những người tình của Dumas, Duras, Hugo … nhưng ít nhất về danh xưng, nàng đã có thể sánh cùng với những người tình thế kỷ. Đó là sự yêu thương, bù đắp mà Nguyễn Du đã dành được cho nhân vật của mình.

Chúng ta đã/có thể làm gì để bù đắp cho chúng ta, so với những thiệt thòi của chúng ta với những cái đẹp và tinh hoa của thế giới hiện đại?

(còn nữa)

Niềm tin của rắn.

Trong chương 4, phần 1 của Anh Em Nhà Karamazov, khi Aliosa nói chuyện với cha về niềm tin và mong muốn của mình, lão Fedor đã có những phản hồi khiến nhiều người phải suy nghĩ.

600x325_bro-k-1

Người ta có niềm tin vào Chúa nhưng người ta chẳng tin vào những thầy tu. Người ta sợ quỷ dùng móc câu lôi đi nhưng ai biết ở dưới địa ngục có xưởng rèn móc hay không? Người ta sợ địa ngục nhưng ai biết nó có trần hay không? Nếu không có trần thì sao gọi là ngục? Rồi lão Fedor chia sẻ với con trai về những thứ không thật, những ý niệm của con người về sự vận động của cái thiện và cái ác, những mặt trái của những điều tốt đẹp.

Kết thúc chương 4, phần 1, dẫu nhìn ra (dù đúng hoặc sai) vô vàn mặt trái của những điều tốt đẹp, của những niềm tin nhưng lão Fedor vẫn ủng hộ Aliosa đi theo niềm tin của mình.

Ta thường giống như Aliosa khi còn thiếu niên và dần dần sẽ giống như lão Fedor khi đã trưởng thành rồi về già. Ta thường thấy những điều tốt đẹp khi còn thơ ngây, trong trắng về nhận thức nhưng rồi sẽ nhìn thấy những mặt trái, những điều không như ý khi đã trải qua nhiều câu chuyện, nhiều thời gian. Có mấy ai vui về những điều đó?

Từ ngày internet phổ cập, lượng thông tin chúng ta tiếp thu ngày càng nhiều hơn. Trong khóa học gần đây về khoa học dữ liệu, tôi được biết lượng thông tin chúng ta tiếp cận trong một năm (hiện nay) nhiều bằng lượng thông tin người xưa tiếp cận trong một đời(cách đây vài thế kỷ). Thông tin đa dạng, đa nguồn. Chúng ta là những khách hàng của những bên cung cấp thông tin, tòa báo, đơn vị truyền hình, … Phần lớn thông tin chúng ta tiếp xúc là những thông tin mang trạng thái tiêu cực. Từ những vấn đề vĩ mô cho tới những điều nhỏ nhặt, từ những vấn đề ngoài nước cho tới những thứ trong nước, từ cái đề văn chẳng liên quan gì tới mình cho tới những bất công xã hội mà chẳng biết khi nào mình bị nó sờ gáy… Ta sẽ mang tâm thế nào giữa những ma trận trùng trùng tiêu cực này? Ta có thể làm gì để giữ được niềm tin vào những điều tốt đẹp?

“Sống bằng niềm tin” – Câu nói cửa miệng của những đứa học sinh cấp 2, cấp 3 lứa cuối 8x, đầu 9x giai đoạn 2004 – 2007. Tôi nhớ câu nói đó hàm ý mỉa mai, nói về việc ai đó mong muốn làm được những thứ không thể, không có cơ sở hoặc ngoài khả năng. Nhưng bây giờ, dường như “Sống bằng niềm tin” có thể mang thêm những tầng nghĩa mới. Khi cuộc sống của người ta càng bấp bênh, bất an, ngoài vòng kiểm soát, người ta càng cần đến niềm tin. Niềm tin có thể đến từ tôn giáo – tín ngưỡng, từ lòng tốt hay từ bất kì điều gì người ta có thể tin vào, nhưng chắc chắn đó là thứ người ta không bao giờ có thể vứt bỏ. Niềm tin là thứ để ta đến gần hơn với những điều tích cực, cái tốt, cái đẹp trong cuộc đời hoặc ít nhất là khiến ta có xu hướng lựa chọn nhiều hơn.

Những điều xấu thì dễ đồn xa. Những điều đẹp đẽ, thật thà thì chẳng nhiều người quan tâm tới, như những điều xấu. (Đương nhiên cũng không phủ nhận là các tòa báo sống nhờ quảng cáo và tỉ lệ hiện thị, click, like, share bài viết sẽ cao vọt khi đăng tin tiêu cực). Cả xã hội từ bạn trẻ tới người già như lên đồng để thóa mạ, chê bai một đoạn văn trong cuốn sách của anh tiến sỹ nhưng chẳng ai biết được sự quan tâm của anh tới những người cận tử. Người ta luôn chê bai nền giáo dục là thấp kém, chậm phát triển nhưng không biết tới những người giáo viên luôn hết mình vì học sinh, luôn thay đổi những khung dạy, những cách dạy truyền thống để học sinh có thêm những cách tiếp cận mới. Người ta luôn chê bai một hệ thống y tế kém chất lượng nhưng không bao giờ xem các số liệu thống kê để biết rằng tỉ lệ nhiều bệnh nhân trên mỗi giường bệnh đã giảm theo thời gian, đội ngũ y bác sỹ đã phải làm việc căng thẳng và mệt mỏi ra sao những vẫn hết mình vì công việc… Không có gì là tuyệt đối, kể cả cái tốt và cái xấu. Ta biết cái xấu, cái chưa tốt và ta phê bình, đó là điều bắt buộc phải làm để mọi thứ tốt lên nhưng ta không có quyền phủ định tuyệt đối những giá trị đang tồn tại vì chẳng có sự tuyệt đối nào tồn tại trong những giá trị, hiện tượng, sự vật xung quanh. Một người chê chẳng sao, một trăm người chê cũng chẳng sao nhưng nếu cả vạn người chê thì người thứ vạn lẻ một có đủ bình tĩnh để đọc hết vấn đề rồi mới chê không hay sẽ lập tức chê theo cả vạn đồng bào của mình?

Ai cũng sẽ khác khi trôi đi trong dòng chảy cuộc đời. Thật khó (dù có thể là có) để ai trong số chúng ta có thể mãi mãi là một Aliosa như khi Aliosa đang mong muốn bước vào tu viện (có thể bạn đang nghĩ đến Đường Huyền Trang trong Tây Du Ký hoặc Peter Pan ở Neverland phải không?). peter_pan_1

Nhưng ta vẫn phải giữ thôi, vì chẳng có niềm tin thì ta sẽ chẳng thể nào bước qua được cuộc đời với đầy rẫy những điều ta không biết, ta chưa hiểu. Niềm tin là thứ chẳng ai có thể tước đoạt của ta, một ý niệm cá nhân rất riêng tư và kín đáo. Niềm tin là thứ phá vỡ những bức tường ngăn cách tưởng như không thể đạp đổ. Niềm tin là thứ giữ lại cái đẹp trên mặt đất, sau khi chủ nghĩa lãng mạn chết đi.  Niềm tin là động lực để ta có thể ngây thơ làm nên những điều không tưởng trong cuộc đời này.

Chẳng phải ngây thơ là đặc điểm nổi bật của những người cách mạng hay sao?

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 1989 : 01h18.

 

Trong sắc hoàng lan

Sáng nay, bạn qua nhà sớm. Mắt nhắm mắt mở trùng trục đi ra, bạn cười và đưa cho một chiếc hộp.

IMG_20170624_082232

Mùng một tháng sáu, thế là đã có hoa. Hoàng lan vẫn còn xanh. Nhài thơm ngào ngạt bên cạnh mẫu đơn và hoa cau. Định sang Lý triều xin mấy lá trầu nhưng mà lười quá, thôi thì có sao dùng vậy!

Ngày xưa, người ta hay kiêng hoa nhài trong việc thờ cúng. Hoa nở ban đêm dù thơm, dù đẹp, dù tinh khiết đến mấy cũng chẳng phải là loài đoan chính, dù có thật thơm, thật đẹp nhưng cũng chỉ dùng trong phòng chứ tuyệt đối không để lên bàn thờ. Suy nghĩ của các cụ ngày xưa có thể chẳng còn hợp thời nhưng các cụ có lý của các cụ.

IMG_20170624_090706

Rửa lại một lần, hoa được bày lên đĩa sứ trắng sạch với ba loại thôi. Mùng một thế này cũng gọi là tươm rồi.

Nhìn đĩa hoa trên bàn thờ chợt nhớ lại thuở xưa. Có một thời, hoa chưa được bán bằng gánh, bằng xe đạp như bây giờ. Hoa được bán bằng đĩa, được bày biện sắp xếp bởi những nhà hàng hoa. Cứ mùng một, ngày rằm, những nhà hàng hoa lại mang một đĩa hoa đến cho gia chủ. Trước là ân sâu Phật Thánh cùng gia tiên tiền tổ, sau là trang trí gia môn. Cái lệ ấy dường như đã ngắt quãng từ lâu, đến giờ thì chẳng còn mấy ai theo cả.

Yêu hoa, chơi hoa là truyền thống có từ lâu của người Việt. “Chơi hoa có cả trăm đường”. Mỗi người một nghệ, mỗi người một tinh. Người thích thả trong bát. Người thích dùng bàn chông. Lại có người thích bọt biển. Cũng không hiếm người thích lọ từ nhỏ đến to, từ thấp đến cao, từ đơn tới đa. Người thích kiểu Nhật, kiểu Tàu. Người thích cắm lẫn màu kiểu những năm 80 của thế kỷ trước. Có người thích quy tắc. Có người tùy sở trạng. Người ưa mùi. Người chơi màu.

Hoàng lan xanh quá!

Bên cạnh mùi hoa sữa, Hà Nội còn màu hoàng lan, còn mùi hoàng lan. Một màu xanh đặc trưng và khiêm nhường trong bạt ngàn loài hoa. Màu xanh chẳng ám ảnh như màu mái tóc của người con gái trong bài thơ của tác giả yêu hoa sim ngày nào. Màu xanh cũng chẳng như những điều được chạm tới trong truyện ngắn của Thạch Lam. Màu xanh chẳng hiển nhiên như bầu trời thu Hà Nội. Màu xanh này rất hoàng lan.

Đó là màu của tuổi trẻ, màu của những điều đang qua.

Đó là màu của tiếc nuối, khi đã ở vào tầm tuổi của người viết – một hời hợt trung niên vẫn luôn hoang mang vì những điều gần gũi nhất.

Đó là …

 

Có một chiều nào

18881921_10213538998252423_8474342327990892188_n

Rồi ngày mai trong một giấc mơ nào
Em có gặp lại những gì đã mất
Trường lớp lạ ngày nào ta biết mặt
Bạn bè tan học rủ nhau về

 
Những tên người vô cớ gọi trong mê
Sáng thức dậy thấy lòng vui rộn rã
Những bài thơ chuyền tay nhau vội vã
Bỗng ngày nào anh chợt nhận ra em

 
Một tên người xa lạ tự nhiên quen
Từ lúc ấy lòng anh như trẻ mãi
Và lòng em cũng vô cùng thơ dại
Ta yêu nhau không một lí do nào

 
Khắp đất trời mới mẻ lạ lùng sao
Thế giới đẹp như trang hoàng trở lại
Những chiếc lá rụng trong chiều lộng lẫy
Cũng nghiêng mình thủ thỉ lúc ta qua

 
Và những huyền bí được sinh ra
Như tất cả, hẳn là em cũng có
Những ngăn kéo của lòng mình nho nhỏ
Ngăn dấu ô mai, ngăn dấu u buồn

 
Và ngăn nào cất giấu những nụ hôn
Ngăn nào nữa cất những lời hứa hẹn
Dẫu lời hứa không bao giờ đúng hẹn
Những chuyến tàu lỡ bến đã từ lâu

 
Giữa những mặt người thấp thoáng qua mau
Em có thấy bóng ai đang sững lại
Ấy là anh của một thời trẻ dại.
Rồi ngày mai trong một giấc mơ nào

 
Em có gặp lại những gì đã mất
Những thanh kẹo nguyên màu kí ức
Vẫn chưa bong lớp giấy cuối cùng
Một bầu trời lặng lẽ đến bao dung

 
Tiếng bước chân nôn nao ngoài cửa lớp
Trong ánh mắt bao niềm vui choáng ngợp
Mỗi ngày qua như một chuyến đi dài
Tiếng cuộc đời giục giã ở bên tai,

 
Kỉ niệm cũ xếp đầy trong trí nhớ
Như nét mực thấm qua từng trang vở
Bàn tay em hờ hững lật qua dần
Có lúc nào em dừng lại, bâng khuâng

 
Như bóng nắng ngoài kia chưa nỡ tắt
Mặt trời xuống sợ ngày vui dẽ hết.
Rồi ngày mai trong một buổi chiều nào
Trên con đường bóng tối phủ từ lâu

 
Em mệt mỏi giữa dòng đời khắc nghiệt
Những lúc ấy có bao giờ em biết
Những tháng ngày tươi đẹp đã trôi qua
Có một phần lầm lỗi ở đôi ta.

*Nguyễn Nhật Ánh*

Viết lên bầu trời.

Em vẫn đang trên bầu trời, để đến một chân trời mới mà ta chưa bao giờ chạm tới.

Cuộc đời nếu chỉ ổn định (dù là nồng nàn ổn định hay đều đều ổn định) thì chẳng may mắn một chút nào. Ta cần những khoảng lặng, những nốt trầm, những cách xa để có thể nhìn nhau cho rõ, để biết đã nhớ mùi cổ tay nhau chưa?

Giống nhau làm tri kỷ. Ngược nhau làm kẻ thù. Lẫn lộn thì còn phải xét, đúng không?

Mọi thứ đến như sự sắp đặt của vô thường, với những con đường ngập tràn năng lượng tuổi trẻ – thứ xa xỉ xa với ta, một kẻ đã “toan về già” trong một thân hình cận kề trung niên. Những cảm xúc tưởng như tuyệt chủng từ một thời đã xa cứ cuồn cuộn ùa về như thể là sự đền bù của đất trời cho “trung niên nghiêm túc” trong guồng quay bất định của cuộc đời.

Thói đời âm – dương tương hỗ, chẳng trạng thái nào tồn tại độc lập tuyệt đối. Ở đất độc sẽ có cây giải độc mọc lên. Từ trong những bất định đô thị sẽ lại mọc lên những tất định, làm ta thấy bình yên tàm tạm, cho đến khi những bất định, “vong thân” trở lại xâm chiếm tâm hồn. Ta lại tiếp tục xoay vần trong những chuyển mình hàng ngày của đô thị.

Em cao thượng và hồn hậu với ta quá!

Ta linh cảm ta sẽ nợ em nhiều…

Ta thật “sến” phải không?

 

IMG_20170521_214552.jpg

FRANCESCO TOTTI <3

Francesco Totti-2011 Roma wallpaper

Người hiệp sỹ buông cương
Thành Rome đọng vô thường nước mắt
Vì sự ra đi
kẻ hiệp sỹ cuối cùng
Mang bước chân
Chạy ngược thời gian
vô vàn
Vết cắt
Nước mắt
Niềm đau
Để lại mãi về sau..

– Tuấn –
*Viết về anh trong một ngày đầy hổ thẹn*

*Addio – il principe di Roma*

Đoản sầu bao lâu lại đếm?

Ta đợi người trong “góc trong veo”
Phía sau vòm lá, trước nắng đèo
Đường giới hạn đường, vô tận ý
Ta đợi lâu rồi … “Em có theo?”
– Tuấn –
Đoản sầu từ lâu chẳng đếm.

18491841_212498669258636_5690555743599377851_o.jpg

(ảnh sưu tầm)

Khi ta đứng trong vô hạn không gian, ta chợt trôi mình tận chiều sâu bản thể.

Chỉ ở trong bản thể đó và nơi góc cùng của trái tim, ta mới nhận ra điểm xác định nơi ta, trong cuộc đời bất định, trong những nổi trôi thân phận và chuyển mình đô thị. 

Không gian, thời gian biến đổi chẳng ngừng. Phố của ta cũng chẳng đợi gác của ta. Ta sẽ dừng đặng bao lâu trước khi lại bị cuộn mình theo những cuồn cuộn ấy? Ta liệu có đủ dũng cảm để tiếp tục chọn cách đứng bên lề hay sẽ thả mình vào, như cách bao anh em ta đã chọn?

Đứng trước ba chiều không gian, một chiều thời gian và vô cùng chiều khác nữa, ta đã chọn chỗ đứng cho mình.

Ta bắt đầu hoài nghi cuộc đời này từ bao giờ? 

Và em?

Đâu là chiều sâu nơi bản thể?

Những ngày đẹp trời và rực rỡ của tuổi thanh xuân vẫn diễn ra.

Hôm nay, tôi được nghe giảng về các phương pháp thống kê. Một trong những phần tôi chú ý nhất là “tính hiện sinh của biến ngẫu nhiên”.

Đại lượng biến đổi biểu thị giá trị kết quả của một phép thử ngẫu nhiên, được gọi là biến ngẫu nhiên.

Với mỗi mô hình toán được đặt ra, những dữ liệu thu được vẫn luôn là bất định. Không thể có mô hình toán đưa ra kết quả trùng khớp hoàn toàn với lý thuyết tính toán. Kết quả luôn chỉ là chính nó, khi được sinh ra. Vì vậy, tôi thấy rằng biến ngẫu nhiên có tính hiện sinh.

Hiện sinh (existentialism) là từ dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những người mà tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người — không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động. Hiện sinh có phải là hiện tại, là hết mình rực cháy cho những đam mê, là bây giờ chứ không phải bao giờ khác.

Phải chăng mỗi cuộc đời trong hơn bảy mươi năm có lẽ cũng chỉ là một biến ngẫu nhiên trong một phép thử bất kỳ của vũ trụ trong bao câu chuyện xung quanh?

Cũng phải thôi! 70 năm có thấm vào đâu so với hàng tỷ năm?

Đô thị to lớn như thế mà chứa đầy bất định, nữa là con người nhỏ bé?

Liệu có lúc nào đến chính chân lý cũng tồn tại những sự bất định trong lòng nó?

Tôi vẫn tin khi  ta đẩy không gian ngoại lai đến vô cùng, ta sẽ gặp chiều sâu của bản thể!

Hình ảnh minh họa :

LIM (KHÔNG GIAN NGOÀI) = CHIỀU SÂU BẢN THỂ

Mình đã sống như mùa hè năm nay

Sau hai ngày cuối tuần được thả mình vào triết học xử lý thông tin mờ, ngất ngây trong những bài giảng của PGS.Trần Đình Khang, đi ngược từ Descartes về thời Aristole và suy tư trong việc “Vì sao ta lại chọn CNTT” (dẫu phải vượt qua gần 200 tín chỉ) thì hôm nay, dưới sự tác động của lực hấp dẫn, ta lại được đắm chìm trong một không gian, một tinh thần khác mà những cảm xúc cũ chẳng những không mất đi, mà lại muôn phần mới mẻ.

Trí thức là những bậc khiêm cung, luôn cất vô tận ý sâu xa trong cái hòa nhã, nhẹ nhàng và ấm áp. Những điều khó khăn tưởng như chẳng thể hiểu nổi, lại có thể được người nghe nhẹ nhàng hấp thu, qua sự trình bày của bậc khiêm cung. Họ kiên nhẫn giảng giải cho người chưa có kiến thức sơ cơ, chủ động chậm lại để chờ người nghe cảm nhận. Họ chẳng vì cái biết, cái thấy của mình mà xem nhẹ những nhân vật xung quanh, luôn giao tiếp ngang bằng ở ngôi một số ít.

Giáo sư Hồ Tú Bảo cùng các cộng sự đã có ngày làm việc đầu tiên thật hiệu quả, tạo được những bước nền về khoa học dữ liệu, trong tâm trí người tham gia, dù có hay chưa có nền tảng về công nghệ thông tin học thuật. Gần như số lượng người tham gia không giảm trong hội trường đại học Thủy Lợi, từ 9h sáng tới sau 16h30.

Điều tôi ấn tượng nhất là cách nắm bắt, dẫn dắt vấn đề và trả lời câu hỏi nhẹ nhàng như những nhịp thơ; cũng như mỗi bước đi trên bục giảng tỏa ra là vô vàn triết học. Những suy tư, trăn trở mà giáo sư chưa thực hiện, chắc vẫn còn hằng hà sa, nhưng nếu không gian này không ngừng mở ra, biết đâu chúng ta sẽ có những điều không tưởng.

Chưa khi nào ta mong thời gian cứ chầm chậm trôi…

“Nếu tất cả những gì chúng ta ý thức được chỉ là ý nghĩ, vậy làm sao ta có thể biết được có thứ gì khác tồn tại ngoài ý nghĩ ra?”

“Tôi tư duy là tôi tồn tại”

Tôi đã được sống trong những ngày cảm xúc tràn đầy.

Đó là một ngày, tôi đi bộ với “tốc độ hồ Tây” với balo hơn 7kg trên vai.

Đó là một ngày, tôi nằm dài trong đáy chén, bên tiếng nhạc của người bạn cùng lớp mà tôi yêu quý.

Đó là một ngày, khi ngủ dậy, tôi chợt muốn về thăm Thầy quá và tôi đã bỏ lại hết công việc để đi trọn một ngày, và đôi tay vẫn chia màu mưa – nắng đến hôm nay.

Đó là một ngày, khi nhận ra mình đã học gần 200 tín chỉ về CNTT trong ngần ấy năm, mới nhận ra được vẻ đẹp trong ngành học mà mình đã lựa chọn. Đó là vẻ đẹp của triết học ẩn chứa trong STEM. của tích Decartes, vẻ đẹp của lý thuyết suy diễn trong xử lý thông tin mờ, qua bài giảng của thầy tôi, một người đàn ông Hà Nội đã gần sáu chục.

Triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học đầu tiên, là mẹ đẻ của các ngành khoa học. Triết học tự phân ly mình, tách ra những môn khoa học riêng rẽ. Đó là vật lý, hóa học, thiên văn, phân tâm học … Và tất nhiên cả toán học, mẹ đẻ của tin học.

Khi ta đi trên một ngọn cây, ta nhìn lên có thể thấy bầu trời. Nhưng nếu ta nhìn xuống, ta sẽ thấy được kết cấu của cây từ cành về gốc. Dù ta học điều gì, những phép cơ bản vẫn luôn là cốt lõi, phải ko? Dù ta nghiên cứu điều gì trong ngành CNTT, thì “tích Decartes” vẫn là một trong tám phép toán cơ bản, là nền tảng của ngành. Decartes không chỉ nổi tiếng với vai trò của một triết gia duy lý – cha đẻ của triết học hiện đại mà còn là một nhà toán học, một nhà khoa học để lại nhiều ảnh hưởng cho hậu bối về sau. Và “tích Descartes” cũng vậy, từ lý thuyết tập hợp cơ bản cho tới những kiến thức chuyên sâu hơn trong những lĩnh vực khác nhau.

Cái đẹp thường chẳng bao giờ khô khan. Nhưng ta thường mải hướng về sự khô khan mà quên đi cái đẹp. Ta thường học để tìm ra cách xử lý vấn đề, tìm ra giải pháp nhưng ta thường quên đi vẻ đẹp trong những cách xử lý đó, những giải pháp đó. Và ta đôi khi còn quên một câu hỏi : “Học để làm gì?”

Đôi khi có những điều đến muộn còn hơn không. Anh mình vẫn bảo:”Để chạm tới những điều đẹp đẽ thường gian nan” nhưng hôm nay, mình muốn vươn tới sự đẹp đẽ ấy. Đó có thể là một trò cười trong mắt nhân dân anh hùng, nhưng mình chưa bao giờ dừng thực hiện những mơ ước đó.

thiet-ke-co-so-du-lieu1-21-728

Cái cây ở bên trong.

Mọc trong vầng trán tôi một cái cây,
Nó mọc vào trong đó.
Rễ nó là những mạch máu,
những dây thần kinh là cành,
những tàn lá rối rắm là những ý tưởng.
Cái liếc mắt của em làm nó bốc cháy,
và những trái cây của bóng tối
là những quả cam máu,
và những quả lựu lửa.
Rạng đông
trong đêm tối của thể xác.
Nơi đó, trong trán tôi,
cái cây nói.
Này, em có nghe nó không?

– Octavio Paz –
(bản dịch của Hoàng Ngọc Tuấn)

octavio paz

Ngoài lề một chút, hình ảnh “lửa lựu” của Octavio Paz trong thế kỷ XX đã từng được nhắc tới trong truyện Kiều của Nguyễn Du từ thế kỷ XVIII :
“Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”