Kazuo Ishiguro là ai?

Kazuo Ishiguro nhận giải Nobel Văn học 2017
ALEXANDRA ALTER and DAN BILEFSKY (NYT)

2017-10-05t110726z1184268845rc1243953050rtrmadp3nobel-prize-literature-1507202439126

Bản dịch của Văn Việt

Kazuo Ishiguro in 2015. CreditAndrew Testa for The New York Times

Tiểu thuyết gia viết bằng tiếng Anh Kazuo Ishiguro, nổi tiếng vì lối văn thanh đạm nhưng âm vang cảm xúc và lật đổ một cách sáng tạo các thể loại văn chương.

Ông Ishiguro, 62 tuổi, lừng danh với các tiểu thuyết “Những gì còn lại của ngày”, [“The Remains of the Day”] viết về người quản gia của một nhà quý tộc Anh trong những năm trước Thế chiến 2, và “Đừng bao giờ để em/anh đi” [“Never Let Me Go”] một chuyện tình buồn man mác nhưng mang chất giả tưởng tồi tệ (dystopian) có bối cảnh là một trường học nội trú của Anh. Ông bị ám ảnh trở lại những đề tài như thế trong các tiểu thuyết thường viết theo ngôi thứ nhất, trong đó có sự sai lạc của ký ức, tính khả tử, và bản chất có nhiều lỗ hổng của thời gian.

“Trộn lẫn Jane Austen và Franz Kafka, ta sẽ có Kazuo Ishiguro trong một bản tóm tắt, nhưng phải thêm một chút Marcel Proust vào đó,” Sara Danius, thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển nói. “Rồi quấy lên, nhưng không nhiều quá, thế là có các văn phẩm của ông này”.

Cô Danius mô tả Ishiguro như “một nhà văn hết sức nguyên vẹn”. “Ông không nhìn sang bên cạnh”. “Ông đã phát triển một vũ trụ thẩm mỹ hoàn toàn của riêng mình”.

Sinh năm 1954 ở Nagasaki (Nhật) nhưng học hành ở Anh, Kazuo Ishiguro nổi tiếng vì lối văn trữ tình, cảm nhận sắc bén về nơi chốn và sự phân tích thấu đáo hệ thống giai tầng của Anh.

Ishigiro là con một nhà hải dương học, sinh ở Nhật nhưng di cư sang Anh (hạt Surrey) từ lúc lên 5, và theo học trường tiểu học Woking [Woking Grammar School], ngôi trường mà ông nói với báo The Guardian “có thể là cơ may cuối cùng để có một hương vị của xã hội Anh đã quá vãng, đã phai nhạt rất nhanh”.

Trả lời phỏng vấn tờ The Times 2 năm trước, Ishiguro nói rằng ông đã khám phá ra văn học khi còn là cậu bé đọc các câu chuyện của Sherlock Holmes trong thư viện địa phương. “Tôi lên 9 hay 10 gì đó, và không chỉ bị ám ảnh khi đọc Holmes và Watson, tôi còn bắt đầu cư xử giống họ… Mọi người lúc ấy coi việc này chẳng ra gì vì tôi là người Nhật”.

Sau khi học tiếng Anh và triết học ở University of Kent, Canterbury, ông để ra một năm viết truyện, và cuối cùng giành được bằng Master về ngành Viết văn với sự giảng dạy của các nhà văn như Malcolm Bardbury và Angela Carter. Ông cũng viết lời cho ca sĩ nhạc jazz người Mỹ Stacey Kent.

Ishiguro nổi bật khá sớm trong giới văn chương. Năm 1983, ông lọt vào danh sách các nhà văn trẻ hay nhất của Anh [Granta’s best of young British writers], cùng với những tên tuổi như Martin Amis, Ian McEwan và Salman Rushdie.

Hiểu biết sâu về những quy ước và màu mè xã hội của xứ sở nuôi dưỡng mình đã được chuyển tải trong cuốn tiểu thuyết thứ ba “Những gì còn lại của ngày”, đoạt giải Booker uy danh, sau đó trở thành bất tử nhờ bộ phim cùng tên với ngôi sao điện ảnh Anthony Hopkins. Ishiguro nói ông viết cuốn sách trên trong 4 tuần lễ, ở tuổi 32.

Mô tả quá trình viết sách, gọi nó là “the Crash” (Miếng vải thô), ông viết trong tờ The Guardian: “Suốt trong the Crash, tôi viết thoải mái, không quan tâm tới văn phong hay nếu như những gì viết buổi chiều lại ngược với cái đã viết buổi sáng. Ưu tiên là chỉ đơn giản để cho các ý tưởng đâm chồi và mọc lên. Những câu dễ sợ, đối thoại gớm guốc, các cảnh không dẫn tới đâu – tôi để cho chúng cứ như thế và rẽ sóng mà đi”.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên, “Cảnh đồi xanh xám” [A Pale View of Hills], năm 1982, viết về một phụ nữ Nhật trung tuổi sống ở Anh, và sau đó là “Một họa sĩ của thế giới trôi nổi” [An Artist of the Floating World] kể chuyện một họa sĩ già người Nhật sau Thế chiến 2. Khi viết “The Remains of the Day,” Ishiguro có lo lắng là mình tự lặp lại khi lại viết một nhân vật ở ngôi thứ nhất qua lời người kể chuyện không đáng tin cậy, nhưng các nhà phê bình thấy cuốn sách là một sự khởi đầu hoàn toàn mới.

Ishiguro đã chơi với các thể loại như truyện trinh thám, truyện viễn tây, khoa học giả tưởng và phóng tưởng. Các nhà phê bình thấy “Kẻ không được an ủi” [The Unconsoled] là một tiểu thuyết siêu thực, giống như giấc mơ, khi nó ra đời năm 1995. “Khi chúng tôi/chúng ta là trẻ mồ côi” [When We Were Orphans] được coi là tiểu thuyết trinh thám. Tiểu thuyết “Never Let Me Go” năm 2005 được coi như một bước nhảy vọt khác về văn phong, vào loại khoa học giả tưởng vị lai, mặc dù bối cảnh của nó là thập niên 1990.

Tiểu thuyết mới nhất của ông, “Người khổng lồ bị chôn” [The Buried Giant], lại lần nữa thách thức mọi trông đợi. Một câu chuyện phóng tưởng có bối cảnh nước Anh thời Vua Arthur, tập trung nói về hai ông bà già Axl and Beatrice bỏ làng đi tìm đứa con trai mất tích và gặp một hiệp sĩ già. Dù là chuyện phóng tưởng, có các loại khổng lồ ăn thịt người và một con rồng, nhưng đó cũng là chuyện ngụ ngôn khai thác nhiều đề tài mà Ishiguro đã bận tâm suốt đời, trong đó có bản chất mong manh của ký ức cá nhân và tập thể.

Chọn Ishiguro, Viện HL Thụy Điển, vốn đã bị phê phán vì sử dụng giải Nobel Văn học để tuyên ngôn chính trị, dường như tập chú vào giá trị thuần túy văn chương.

Nguồn bản gốc tiếng Anh:
The British author’s best sellers include “The Remains of the Day” and “Never Let Me Go.”
NYTIMES.COM

Advertisements

Bạn không thấy mình đang làm những điều vô nghĩa chứ?

Bạn là một giáo viên, bạn dạy những điều mình luôn tin tưởng và nghĩ là tốt đẹp cho người nghe (học sinh/sinh viên của bạn). Người nghe có thể sẽ tiếp thu hoặc không tiếp thu. Nếu họ không tiếp thu, bạn đã có một tiết học thất bại. Nếu họ tiếp thu, sẽ có những người có tư duy, cách suy nghĩ riêng và phản biện lại bạn. Hẳn là bạn sẽ vui vì điều đó và xin chúc mừng bạn (tất nhiên rồi!). Nhưng sẽ có những người sẽ lắng nghe, tiếp thu mà chẳng phản biện, chẳng suy tư hay phán xét. Để rồi đến một ngày, những người ấy sẽ áp dụng những điều ấy trong chính cuộc đời họ hay những điều liên quan đến họ. Không biết nên lo hay nên buồn? Bạn thỉnh thoảng hỏi đùa tôi rằng : “Sao em không thể làm nghề một cách nhàn nhã như mọi người nhỉ? Tại em cứ nghĩ và cứ muốn làm cho nó phải có ý nghĩa đúng không?”

Giáo dục hay nói rộng ra là cuộc đời này, liệu có phải là sự vô nghĩa không?

Mình có một ông bạn già, già lắm rồi mà chưa có vợ. Bác ấy là người rất tốt, ngày xưa hời hợt với tiền và tha thiết với những cái đẹp trong cuộc đời (hình như bây giờ vẫn thế!). Hôm trước thấy bác ấy viết một cái status gì đó liên quan tới sự vô nghĩa (mình đọc cũng chẳng hiểu, chỉ bấm like ủng hộ thôi). Từ đấy, mình mới suy nghĩ về cái sự này. Liệu mình có đang làm một việc vô nghĩa không? Thế nào là sự vô nghĩa nhỉ?

meaningless-trw

Hồi còn hay làm bóng ghế giảng đường, mình còn nhớ là số thực được chia ra làm hai loại : số có nghĩasố vô nghĩa. Trường phái Pitago thời Hy Lạp cổ đại quan niệm rằng : Vạn vật trong vũ trụ đều là số (có nghĩa). Nhưng rồi người ta lại thấy số có nghĩa không biểu thị được hết những vấn đề trên mặt đất, thế là có thêm khái niệm số vô nghĩa (số không thể viết được dưới dạng so sánh của số nguyên với số nguyên). Vậy là số vô nghĩa không phải là sự vô nghĩa!

Sự vô nghĩa cũng từng được cụ Nguyễn Du nhắc tới trong tác phẩm của mình, ở đoạn Tú Bà mắng giám sinh họ Mã dám “đào tiên đã bén tay phàm” khiến mụ “vốn liếng đi đời nhà ma” :

“Tuồng vô nghĩa, ở bất nhân,
Buồn mình trước đã tần mần thử chơi”.  

Nghĩ đến cảnh “con ong đã tỏ đường đi lối về” khiến giám sinh họ Mã thành “tuồng vô nghĩa”, rõ ràng sự việc này chẳng thể vô nghĩa, thậm chí còn rất có ý nghĩa (xin không phán xét tốt/xấu) vì nó mở ra rất nhiều câu chuyện về sau.

Đến thế kỷ XX, Milan Kundera mở ra “Lễ hội của vô nghĩa”. Tác phẩm xoay quanh những trò đùa vô nghĩa, tiếng cười, sự tuyệt vọng, sự khêu gợi, và suy tưởng của năm người bạn: Ramon, Charles, Alain, D’Ardelo, và một người có biệt danh Caliban. Kun đặt họ trong những chồng chéo, rồi bằng ngòi bút tỉnh táo và sắc sảo của mình, ông để họ cất tiếng nói vô nghĩa, giãi bày về đời sống vô nghĩa của chính họ. Những sự dửng dưng, tưng tửng trong ngòi bút của tác giả ở tuổi 86 có ý nghĩa gì? Nó có phải sự vô nghĩa không? Hay tất cả những điều ấy được sinh ra nhằm mục đích để thể hiện cho một sự có nghĩa nào đó?

Mỗi thời kì, sự “có nghĩa” sẽ luôn được định nghĩa, tồn tại và biến đổi. Còn sự “vô nghĩa” thì …

Hôm nay, tôi giao tay với một người anh em. Tay tôi đi theo tay hắn và thỉnh thoảng, bàn tay hắn tìm đến mặt tôi một cách nhân ái. Tôi cảm nhận được nhịp thở và độ sâu, sự căng tràn từ những phút giao tay đó.

Hôm nay, tôi thấy hình ảnh một chiếc xe đạp ở Cầu Gỗ. Trên xe là một người đàn ông chở một em bé gái. Tay anh cầm một cây acmonica, vừa đạp từ từ vừa thổi Bài Ca Xây Dựng.

Hôm nay, tôi chẳng thể trình bày ý nghĩa của sự vô nghĩa là gì. Vì tôi chẳng hiểu cái quái gì về nó.

Link không liên quan tới bài viết : https://www.youtube.com/watch?v=yU8fmHA-vl8

Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ
Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi.
*Lưu Quang Vũ

 

Suy nghĩ về “Lý triều dị truyện”

20994098_10155591566879085_157551629898210057_n

(nguồn ảnh : Nhã Nam)

“Đại Nam dị truyện” là tác phẩm đánh dấu sự xuất hiện của Phan Cuồng trên văn đàn trong lĩnh vực tiểu thuyết hư cấu, thì “Lý Triều dị truyện” là tác phẩm đánh dấu một sự tiến bộ vượt của Phan Cuồng trong lĩnh vực tiểu thuyết.

“Đại Nam dị truyện” có khởi đầu tương đối lạ, có sức ám ảnh và ghê rợn dựa trên nền tảng huyền thuật. Tác phẩm tương đối cuốn hút và hấp dẫn trong khoảng nửa đầu tác phẩm. Những yếu tố văn hóa, tâm linh, huyền thuật và cả sự mê tín được tác giả sử dụng khéo léo, đưa vào tác phẩm làm người đọc không thể ngừng tập trung vào sách. Nhưng bên cạnh những điểm hay, “Đại Nam dị truyện” chưa phải là một tác phẩm hoàn hảo. Tốc độ câu chuyện ở nửa sau bị đẩy đi quá nhanh, tình tiết câu chuyện tương đối gấp gáp trong khi tác phẩm còn có thể phát triển thêm nhiều về ý tưởng, khiến người đọc cảm thấy hẫng hụt. Tôi có cảm giác tác giả hơi vội trong việc kết thúc câu chuyện. Đó là một điều tôi cảm thấy tiếc, khi đọc xong tác phẩm.

Nhưng khi “Lý Triều dị truyện” ra mắt người đọc, tôi cảm thấy đây là sự tiến bộ vượt bậc về mặt bố cục, tình tiết và tốc độ trình bày tác phẩm của tác giả. Tốc độ diễn biến câu chuyện đã hợp lý hơn. Các điểm nhìn được trình bày đan xen, xen kẽ khiến người đọc dần dần hiểu rõ hơn về bối cảnh câu chuyện và tác phẩm. Các tình tiết có tính hợp lý, logic khiến người đọc cảm thụ được mạch câu chuyện, bên cạnh những kinh hoàng, ghê rợn không tưởng được tác giả lồng vào tác phẩm.

Con người ta thường thích những sự hư cấu dựa trên sự thật hoặc một phần sự thật. Tác phẩm được hư cấu dựa trên lịch sử triều Lý – vương triều được khen ngợi bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Tất nhiên, vì là tác phẩm hư cấu nên bố cục thời gian, bối cảnh lịch sử sẽ khác so với những gì được ghi trong chính sử. Câu chuyện đã tạo hình nên một góc nhìn khác về xã hội đương thời. Tiểu thuyết là lịch sử được tưởng tượng lại, tư duy lại, viết lại theo một cách khác, bên cạnh những gì chính thống. Lịch sử cho phép tiểu thuyết đặt ra những góc nhìn khác, diễn biến khác và thậm chí là kết quả khác, kích thích sự đa chiều trong tâm thức người đọc. Có lẽ vì thể, tiểu thuyết lịch sử hư cấu thường có sức cuốn hút rất lớn với phần đông mọi người.

“Lý triều dị truyện” tiếp tục sử dụng đề tài vu thuật, huyền thuật và tâm linh từ “Đại Nam dị truyện”, thậm chí là cả một số chi tiết, thành phần của tác phẩm trước như Đào Lạp, Trấn Quốc hội… Người đọc đôi khi có thể cảm thấy “Lý triều dị truyện” là sự tiếp nối của “Đại Nam dị truyện” và với cách kết thúc tác phẩm, rất có thể sẽ còn có Trần triều, Lê triều, Lê – Mạc triều, Trịnh – Nguyễn triều … dị truyện ra đời trong những thời gian tới nữa. Hi vọng là chuỗi tác phẩm sẽ không hình thành một quy luật quen thuộc (ví dụ như chùm tác phẩm của Dan Brown”) mà có sẽ có những điểm mới mẻ, khác lạ về kết cấu và nội dung.

Thêm một điểm mới nữa của “Lý Triều dị truyện” so với “Đại Nam dị truyện”, đó là yếu tố hài hước được xây dựng bởi nhân vật Phan Cuồng của tác phẩm. Ngày xưa, trong các tác phẩm tuồng, chèo, bên cạnh cốt truyện chính dựa trên lịch sử, ý niệm thường có những nhân vật hề. Họ đôi khi không quá liên quan tới nội dung tác phẩm, họ chỉ có tác dụng để làm gây cười và sự bất ngờ cho người xem. Nhưng chính những nhân vật hề nhiều khi lại khiến người xem gắn bó với tác phẩm, khiến người xem không bị căng thẳng, mệt mỏi hay nhàm chán. Họ làm mềm tác phẩm, cũng như nước làm mềm cho đất. Và Phan Cuồng trong “Lý Triều dị truyện” cũng đã làm được những điều tương tự.

“Lý triều dị truyện” còn rất nhiều điểm mới mẻ và thú vị, so với “Đại Nam dị truyện”. Đây là một cuốn sách rất đáng đọc đối với những ai yêu lịch sử hoặc thích tưởng tượng cùng những sự hư cấu. Nhưng cuốn sách này còn có nhiều tình tiết độc hại dành cho lứa tuổi 18-. Hãy nghĩ kĩ trước khi đặt cuốn sách lên kệ sách cá nhân.

Jpeg

Ai đã mất gì?

Đến giờ này vẫn chưa thấy mưa, có lẽ Ngưu Lang và Chức Nữ chưa gặp được nhau rồi.

Phải chăng do sự tàn phá môi trường mà ảnh hưởng đến sự sinh tồn cũng như số lượng quạ, nên cầu Ô Thước chưa kịp bắc?

Hay là do họ đã có những sự quan tâm khác to lớn hơn, quan trọng hơn nên họ cũng chẳng thiết gặp nhau, như hàng nghìn năm qua vẫn vậy?

Hay do cái đô thị này quá bất định với vô vàn sự biến mất bất ngờ, nên đến những thứ đã tồn tại hàng nghìn năm nay cũng không nằm ngoại lệ?

Hà Nội có gì bất biến không, ngoại trừ việc có và chỉ có mười ba cái ngã ba xung quanh hồ Hoàn Kiếm?

18620328_10207870254828490_751785700044120530_n

Em đang nghĩ đến điều gì? Chúng ta có đang chung một suy nghĩ không?

Bây giờ, nếu em muốn ăn một hộp xôi tạm chấp nhận được vào lúc 22h30, chắc anh sẽ phải suy tư kết hợp tra cứu nhiều lắm đấy! Xôi Yến dù chẳng quá ngon, nhưng cũng nổi danh bốn cõi khiến  giá cao nhưng khách vẫn tấp nập từ vươn thở tới lơ mơ, từ sáng sớm tới tối mịt. Thế mà đến một ngày, tự nhiên đóng cửa với chẳng một lý do. Chẳng biết do lô đề bóng banh cỏ xanh cỏ đen cỏ trắng hay do cái gì, nghe tin ngoài chợ Hàng Bè thì chỉ biết là vỡ nợ.

Quán chè chén vỉa hè phố Tôn Đản của chú gù (tôi vẫn luôn tin đây là nguyên mẫu ngoài đời của nhân vật chính cũng gù, bán quán nước trong phim truyền hình Ngõ Lỗ Thủng), cũng tự nhiên biến mất sau bao năm, trong một ngày không được dự báo trước.

Có một thời gian dài, đô thị này mang kết cấu nội thành ngoại thị. Nó đã tạo nên thật nhiều lớp trầm tích văn hóa, còn đọng lại nơi các di tích từ xưa với những biểu hiện đa dạng. Nhưng hình như những thông tin, ý niệm cứ mất dần dần và những hoành phi, câu đối, tượng … cũng dần biến mất vì lý do nào đó mà ta chẳng thể nào biết được, mà có biết được cũng khó có thể nói.

Tất nhiên là bên cạnh những điều tiêu cực, ta vẫn còn thấy những điều tích cực. Nhưng dù tiêu cực hay tích cực, nền tảng ở đây vẫn luôn là sự biến đổi đến từng ngày, thậm chí từng giờ. Có những nơi hôm trước mang biển hiệu này, hôm sau đã thành biển hiệu khác. Có những cửa hàng đẹp đẽ, bề thế, mặt tiền rộng rãi và sạch đẹp, chỉ sau một hôm đã biến thành ba cửa hàng nhỏ bán ba loại sản phẩm hoàn toàn mới. Cái guồng quay chuyển động không ngừng đã làm nên tính bất định của đô thị?

Cách đây tầm 15 năm là cơn sốt của cà phê truyền thống. Các quán cà phê ra đời để phục vụ nhu cầu trao đổi công việc, họp lớp, chém gió… đã góp phần đổi màu hoàn toàn những con phố êm đềm, tĩnh lặng như Nguyễn Hữu Huân, Triệt Việt Vương, Hàng Chuối… Cách đây tầm 5 năm tới thời của đồ take-away, các loại đồ đá xay pha kèm siro, nguyên liệu nhiều khi chưa rõ nguồn gốc. Và tương tự là gần 2 năm trở lại đây tới bây giờ, trà sữa tái trở lại ngôi vương khi mọc lên như nấm trên từng con phố (thời kì phát triển rực rỡ đầu tiên của trà sữa là giai đoạn 2001 – 2003 với một loạt các hàng Feeling Tea với mặt tiền tối đa 2m, sâu tối đa 3m). Mỗi loại đồ uống nổi lên sẽ mang theo muôn vàn cơn gió, tác động tới nhiều góc cạnh thói quen của mỗi người. Và đó mới chỉ là một phần rất nhỏ của cơn lốc đô thị đi kèm những bất định, khiến ta cảm thấy bơ vơ và vong thân ngay tại mảnh đất đã sản sinh và nuôi dưỡng mình.

18882222_451471061874092_2622352370278983065_n

“Bát phong xuy bất động” liệu có khi nào sẽ biến mất khỏi đô thị này, như cách tan biến của những bong bóng trên phố đi bộ bên hồ Gươm?

 

Dậy Ăn Sáng :D

Dậy Ăn Sáng (soundcloud)

Buổi sáng ông hay ăn gì ? Dậy trễ nên tôi ăn mì !
Và nếu cuối tuần này ông vẫn dư tiền, đi ăn với tôi anh em hàn huyên !
Buổi sáng nên ăn phở bò ? Hay một bán bún riêu với giò ?
Và đã bao giờ mà ông thấy đau đầu vì không biết nên ăn gì ở đâu ?
Cứ đi một vòng dù ngõ ngách thật sâu.
Cứ chọn món gì mà ăn ngon nhớ lâu
Để mai này dẫn người yêu đi tự tin nói câu này :” Bạn anh với anh hay ăn ở đây”

Đặt báo thức lúc 6 giờ rồi xuống mau lên tôi chờ
Đừng quần áo cầu kì vì tôi thích nhanh gọn, chỉ cần kiếm quán ăn nào thật ngon
Buổi sáng đi ăn phố phường, rồi kiếm một quán nước ngay ven đường
Một chiếc ghế nhựa màu xanh mấy ly trà, bàn chuyện thế gian vui buồn gần xa
Ngồi nhìn xe cộ rồi đường phố dần đông
Nói những câu chuyện chỉ riêng tôi với ông
Gọi thêm bao thuốc loại mình thích để lát nữa ta ngồi Sài Gòn của ông, Thăng Long của tôi

Buổi sáng thứ ăn gì, đi làm sớm chắc tôi ăn mì ..
Vậy nếu cuối tuần này chưa có ai hẹn, dậy sớm với tôi đi ăn đừng quên
Buổi sáng mấy hôm trong tuần, vui thì ít âu lo bao phần
Chuyện tiền nong, công việc làm tôi thấy rã rời
Chỉ mong đến hôm cuối tuần thành thơi
Và mong cuối tuần này ông vẫn dư tiền, đi ăn với tôi anh em hàn huyên


Bài này mình thích quá ❤

Tự Do Ý Chí

Mỗi cuốn sách, mỗi tác phẩm đều cho ta những cảm nhận khác nhau trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kì.

Cách đây nhiều năm, mình đọc “Sống mãi với Thủ Đô” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, mình luôn cảm nhận được sự nhiệt huyết trong lý tưởng của nhà văn. Chủ nghĩa lãng mạn hòa cùng tinh thần anh hùng cách mạng được làm nổi bật trong tình yêu dân tộc, yêu đất nước và tinh thần “Quyết Tử Để Tổ Quốc Quyết Sinh”. mod20131218_tdtd1Tất cả những sự duy mỹ cá nhân được hòa cùng nhau để làm nên một cái đẹp tổng thể, cái đẹp của một trận chiến đậm màu trí thức tư sản. Những Trần Văn, Nhật Tân, những người thợ hay những chàng trai, cô gái Hà Nội dù khác nhau về nguồn gốc, giai cấp những đã sát cánh cùng nhau vì một mục đích cao cả. Chẳng còn sự phân biệt giữa người thị dân, người công nhân, người làm thuê, … Tất cả đều là người đô thị. Họ là những vệ quốc quân của Trung Đoàn Thủ Đô bất tử. Họ là những cảm tử quân cùng cây bom ba càng.  Họ là những dân quân tự vệ tự xây hào đắp lũy bằng của cải tư gia, tạo công sự bằng ha_noi_1946 việc đục tường các nhà trong phố, ở nơi ngàn năm luôn được coi là “phi chiến địa”. Họ chẳng tiếc mạng sống của mình, chẳng tiếc tuổi thanh xuân. Tất cả vì cuộc chiến trường kỳ phía trước, và trên hết là vì cái đẹp và sự lãng mạn. Chủ nghĩa lãng mạn có thể đã chết khi chủ nghĩa duy lý ra đời nhưng sự lãng mạn luôn tồn tại trên mặt đất, nơi vẫn còn tồn tại ý chí con người.

Đô thị không chỉ đi liền với cái đẹp, với mỹ cảm mà còn gắn liền với những bất định, những vong thân. Bên cạnh những mỹ cảm thị dân là những sự trống rỗng, tan vỡ, rời rạc trước những sự biến đổi không ngừng. Đứng dưới góc nhìn cá nhân, dường như Hà Nội không hẳn là một đô thị đúng nghĩa khi những biến động thường diễn ra từ biến động quốc gia, từ an nguy dân tộc với những cuộc chiến tranh nhân dân với kế hoạch “vườn không nhà trống”. Hà Nội dường như chỉ mang đặc tính “nửa đô thị – nửa làng” khi mọi thứ biến động luôn ít được ủng hộ, thương mại tự do không thường xuyên được tạo điều kiện (nhiều giai đoạn từ thời phong kiến cho tới 1986 còn bị cấm đoán), tư hữu cá nhân luôn gặp nhiều cái khó. Hà Nội luôn bị nghi ngờ trong những khắc giao thời, trong những cuộc chuyển giao về chính trị. Và chỉ trong 2 tháng mùa đông cuối năm 1946 – đầu năm 1947, những cản trở và khó khăn trên mới giảm đi phần nào, để Hà Nội thật sự là chính nó, một đô thị đúng nghĩa. Hà Nội đã tạo ra một cuộc chiến tranh tôn thờ cái đẹp, tôn thờ sự lãng mạn. Hà Nội đã đánh dấu nền tảng đô thị của chính mình – vùng đất của trí thức và tiểu tư sản.

Những điều mình viết là cảm nhận của mình từ ngày xửa ngày xưa. Hôm qua, mình đọc lại tác phẩm từ đầu đến cuối. Tất cả những giá trị cũ đều vẫn tồn tại và vẫn đẹp nhưng mình chẳng còn cảm thấy dạt dào được như xưa. Mình chẳng còn hào hứng với những Trần Văn, Nhật Tân, Oanh và mọi người mấy. Mình chỉ thấy đồng cảm với Tân, đặc biệt qua những gì anh nói với Nhật Tân và Lu lu trong đêm sát ngày nổ súng. Mình xin trích dẫn lại một vài đoạn văn trong chương 19 của tác phẩm.

Từ những đoạn đầu tiên khi Nhật Tân nói Tân về suy nghĩ cá nhân của mình về sự tự do :

– Tao là một người tự do, nghĩa là tao chỉ nghe có một người, ấy là tao. Chỉ có một người quyết định được cho tao, ấy là tao. Tao làm khi nào tao muốn. Cái nhà này là của ông cụ tao, nhưng sau khi ông cụ cho tao, sang tên hẳn hoi rồi, tao cấm ông cụ không được đến, ông cụ cũng phải chịu cơ mà. Tao là thế.

– Tao không muốn xâm phạm đến quyền tự do của ai cả. Còn mày bắt thì cứ việc bắt, đó là quyền tự do của mày. Nói tóm lại con người là phải hoàn toàn tự do. Ăn uống, may mặc, chơi gái.

Rồi đến những dự cảm của Tân về tương lai sẽ tới (với sự thực đã được thời gian kiểm chứng):

– Mày uống đi, uống cạn đi rồi chia tay nhau. Tao rất thương mày, thương hơn tao nữa. Tao không biết mày đúng hay tao sai, hay ngược lại. Nhưng có lẽ mày đúng, vì mày là zéro (5). Còn tao không phải là zéro thì đi với Việt Minh để làm gì? Tao muốn nói cái tụi Việt Minh chính cống, tụi Việt Minh cộng sản, chứ không nói cái hạng Việt Minh léng téng, loại Việt Minh như mày? Uống đi.

Họ cùng cạn cốc. Tân vứt cái cốc xuống sàn, vỡ tan tành:

– Tao đi với Việt Minh rồi thì cũng thế này thôi. Nghĩa là đánh xong Pháp, thì đến lượt chúng tao bị họ làm cỏ, của cải, họ đem chia. Đấy rồi mày xem, có đúng không. Buồn lắm, Nhật Tân ạ. Có lẽ mày không bao giờ thương tao cả.

Trong giờ phút mà con người chẳng thể tự định đoạt vận mệnh của mình, Tân đã đưa ra những ý niệm rất cá nhân về cái đẹp :

– Cái phần đẹp nhất của con người lại là ở chỗ con vật. Hết con vật thì không còn con người. Nhưng không cãi nữa. Nên trọng tự do của nhau thôi. Mày đến chơi, tốt, ăn uống với tao, tốt, muốn có gái chơi, được, tiền tha hồ. Nhưng đừng tuyên truyền. Nhật Tân ơi. Tao có được nhẹ nhõm như mày đâu. Mày đã đứng hẳn về một phía, còn tao…

Tân cũng trải lòng suy nghĩ về người bạn và những người đồng chí của bạn cùng các hoạt động của tổ chức (mình không phán xét trong trường hợp này) :

– Đã nói hết chưa? Nói hết chưa? Chưa hết thì nói đi, thằng bạn học đòi vẹm của tôi ơi! Sao chúng mày khoẻ tuyên truyền thế, tuyên truyền cả trong tình bằng hữu, đem cả Tổ quốc ra để thoả thích cái thói quen, cái tật tuyên truyền của chúng mày. Bao giờ thì chúng mày im đi và thật thà hơn một chút? Nhật Tân này, mày còn khá đấy, chưa nặng lắm, nhưng phải coi chừng. Ừ. Mày là thằng bạn thân của tao, sao mày không nói với tao như ngày trước, mà phải làm ồn ào như thế. Sao mày lại phải tuyên truyền tao? Những thằng đi tuyên truyền tao? Những thằng đi tuyên truyền thường coi người mà chúng nó tuyên truyền là ngu hết. Tao không muốn thế. Tao muốn là tao, tao nghe tao, tao quyết định lấy tao. Đừng nói nữa. Hay mày cứ nói đi, vì mày có quyền tự do nói, nhưng để mà tao không nghe.

Để rồi cuối cùng là những cầu chúc trong tuyệt vọng, muốn níu kéo bạn mình mà không thể của Tân :

mqdefault

Tân vỗ vai Nhật Tân, kéo vào ngồi xuống ghế, lại rót hai cốc rượu, đưa cho bạn một. Anh ngồi trên cái tay vịn, nhìn Nhật Tân mắt đã đỏ ngầu:

– Uống đi rồi về. Mày thương lấy tao, chứ đừng giận tao, đừng trách tao. Nếu như chốc nữa, hay ngày mai, ngày kia tao nghĩ lại, thì là vì, vì mày, chứ không vì cái gì cả. Có cần gì không? Súng đấy, cầm lấy, tao mua cho mày đấy, đừng có khách khí nữa, vì tao biết chúng mày có cái gì đâu mà đánh Tây. Tao có một khẩu súng của tao rồi, để tao tự xử. Cần gì nữa? Tiền? Tao biết hỏi thế mày tự ái, nhất là lúc này, nhưng khách sáo gì nữa mày và tao. Thuốc lá, lấy mấy tút đi. Tao trữ hàng tháng, hút liên miên không hết, để lấy nó thay cho mày đấy. Mày đánh thay tao vậy. Tao giúp mày là vì thế.

Tân vào phòng, rồi trở ra, ôm một bọc thuốc lá, cúi xuống bàn cầm khẩu súng mà Nhật Tân còn để đấy, đưa cả súng và thuốc lá cho Nhật Tân. Anh nắm lấy tay bạn:

– Mày đừng chết nhớ.

Tân đến ôm con Lu lu:

– Cả mày nữa, đừng chết nhớ.

Nhật Tân nói:

– Được. Tao lấy tất cả những thứ này. Nhưng tao không chịu ơn mày.

images148510_5Mình không muốn lật lại lịch sử vì mỗi cá nhân có những góc nhìn riêng và chúng ta đều có quyền tôn trọng sự đa dạng. Sự thừa thãi là điều tất nhiên nếu tiếp tục khen ngợi vẻ đẹp của giai đoạn chiến đấu này vì dường như đây là thời kỳ cách mạng đẹp nhất, trọn vẹn và lãng mạn nhất, khi mà cụ Hồ chưa bị tác động và gặp nhiều sự cản trở từ đệ tam quốc tế. Trong mắt tôi, cụ là người cấp tiến chứ không phải người bảo thủ.

Quay về tiêu đề đầu bài, mình có một câu hỏi :”Liệu có thể có sự tự do cho một tập thể khi không có sự tự do ý chí trong từng cá thể?”. Nhật Tân, Trần Văn và những đồng chí của họ luôn tin tưởng đi theo lý tưởng của cá nhân mình là hướng về cách mạng, hướng về tổ quốc nhưng chính bản thân họ vẫn có những sự nghi ngờ đối với bản thân trong quá trình dân vận chuẩn bị kháng chiến (điều này có thể gặp ở nhiều chương trong tác phẩm). Họ có sự tự do trong ý thức cá nhân không? Còn với Tân, anh hoàn toàn tự do với suy nghĩ, ý thức của mình. Có thể sẽ nhiều người nhận định anh ích kỷ cá nhân, đua đòi lối sống tư sản nhưng rõ ràng, anh không thỏa hiệp với thứ mình không tin tưởng. Anh tin vào suy nghĩ và nhận định của mình. Anh không thể dòng chảy xã hội tác động lên anh quá nhiều (anh vẫn có sự ủng hộ về vật chất như súng, thuốc lá). Anh không bỏ trốn, không đầu hàng nhưng chọn cách đứng men vào lề của dòng chảy lịch sử, chờ đợi những điều có thể xảy đến với mình. Trong những giờ phút chuyển giao đầy nguy hiểm mà mỗi sai lầm không gì sửa chữa nổi, anh vẫn lựa chọn những thứ mình muốn như việc ủng hộ Nhật Tân những thứ bạn cần hay bữa ăn với những người xa lạ trước giờ nổ súng. Và còn rất nhiều hành động nữa của Tân mà trong bài viết này tôi chẳng thể kể hết. Đó phải chăng chính là sự tự do ý chí?

Không có gì quý hơn độc lập – tự do. Độc lập với ai? Tự do với điều gì? Độc lập – Tự do cá nhân và Độc lập – Tự do dân tộc, điều gì quan trọng hơn? Với suy nghĩ cá nhân, mình ưu tiên dân tộc, dù mình đồng cảm sâu sắc với Tân. Khi đất nước bị mất quyền độc lập – tự do, tất cả mọi thứ độc lập – tự do cá nhân chẳng mang lại nhiều giá trị. Nhưng khi đất nước đã độc lập – tự do, giờ đã đến lúc mỗi cá nhân cần sự độc lập – tự do cho tinh thần của mình?

Ta hay mong muốn cuộc đời cho ta một bạn kì lân, nhưng đôi khi thực tế phũ phàng chỉ mang đến cho ta một chú dê non một sừng. Cách tốt nhất để một xã hội tiến lên trong thời chiến là tất cả cùng tập trung vào một số mục tiêu nhất định, nâng cao ý thức tập thể và hạ thấp vai trò cá nhân. Nhưng điều đó có còn đúng trong thời hòa bình, điều chúng ta đã có hơn bốn mươi năm trước?

Những điều sơ sài mình nêu ra chỉ là chút suy nghĩ cá nhân và sẽ có những điểm chưa được mọi người đồng thuận, mong là sẽ nhận được góp ý từ mọi người.

 

Viết cho có.

“Cõi phù sinh như hình vạn ảnh”

Hình như từ 300 năm trước, Nguyễn Du đã mường tượng ra được sự tồn tại của một loại sinh vật trôi nổi phù phiếm, có khả năng siêu phàm là chụp vạn tấm ảnh và chọn một tấm mình tâm đặc nhất. Tấm ảnh đó sẽ được up lên các mạng xã hội để có được nghìn likes, dăm chục comment…

Nguyễn Du quả thiệt là có cái nhìn đi trước thời đại, ông có những cụm từ rất mới, rất đắt. Ví dụ như cụm từ “Người tình không” trong truyện Kiều để nói về Đạm Tiên, mà đến gần thế kỷ 20 mới thấy xuất hiện trong văn học :

“Sống làm vợ khắp người ta,

Đến khi thác xuống ra người tình không”

Đạm Tiên có lẽ cũng còn xa mới so được với những người tình của Dumas, Duras, Hugo … nhưng ít nhất về danh xưng, nàng đã có thể sánh cùng với những người tình thế kỷ. Đó là sự yêu thương, bù đắp mà Nguyễn Du đã dành được cho nhân vật của mình.

Chúng ta đã/có thể làm gì để bù đắp cho chúng ta, so với những thiệt thòi của chúng ta với những cái đẹp và tinh hoa của thế giới hiện đại?

(còn nữa)

“Tôi tư duy là tôi tồn tại”

Tôi đã được sống trong những ngày cảm xúc tràn đầy.

Đó là một ngày, tôi đi bộ với “tốc độ hồ Tây” với balo hơn 7kg trên vai.

Đó là một ngày, tôi nằm dài trong đáy chén, bên tiếng nhạc của người bạn cùng lớp mà tôi yêu quý.

Đó là một ngày, khi ngủ dậy, tôi chợt muốn về thăm Thầy quá và tôi đã bỏ lại hết công việc để đi trọn một ngày, và đôi tay vẫn chia màu mưa – nắng đến hôm nay.

Đó là một ngày, khi nhận ra mình đã học gần 200 tín chỉ về CNTT trong ngần ấy năm, mới nhận ra được vẻ đẹp trong ngành học mà mình đã lựa chọn. Đó là vẻ đẹp của triết học ẩn chứa trong STEM. của tích Decartes, vẻ đẹp của lý thuyết suy diễn trong xử lý thông tin mờ, qua bài giảng của thầy tôi, một người đàn ông Hà Nội đã gần sáu chục.

Triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học đầu tiên, là mẹ đẻ của các ngành khoa học. Triết học tự phân ly mình, tách ra những môn khoa học riêng rẽ. Đó là vật lý, hóa học, thiên văn, phân tâm học … Và tất nhiên cả toán học, mẹ đẻ của tin học.

Khi ta đi trên một ngọn cây, ta nhìn lên có thể thấy bầu trời. Nhưng nếu ta nhìn xuống, ta sẽ thấy được kết cấu của cây từ cành về gốc. Dù ta học điều gì, những phép cơ bản vẫn luôn là cốt lõi, phải ko? Dù ta nghiên cứu điều gì trong ngành CNTT, thì “tích Decartes” vẫn là một trong tám phép toán cơ bản, là nền tảng của ngành. Decartes không chỉ nổi tiếng với vai trò của một triết gia duy lý – cha đẻ của triết học hiện đại mà còn là một nhà toán học, một nhà khoa học để lại nhiều ảnh hưởng cho hậu bối về sau. Và “tích Descartes” cũng vậy, từ lý thuyết tập hợp cơ bản cho tới những kiến thức chuyên sâu hơn trong những lĩnh vực khác nhau.

Cái đẹp thường chẳng bao giờ khô khan. Nhưng ta thường mải hướng về sự khô khan mà quên đi cái đẹp. Ta thường học để tìm ra cách xử lý vấn đề, tìm ra giải pháp nhưng ta thường quên đi vẻ đẹp trong những cách xử lý đó, những giải pháp đó. Và ta đôi khi còn quên một câu hỏi : “Học để làm gì?”

Đôi khi có những điều đến muộn còn hơn không. Anh mình vẫn bảo:”Để chạm tới những điều đẹp đẽ thường gian nan” nhưng hôm nay, mình muốn vươn tới sự đẹp đẽ ấy. Đó có thể là một trò cười trong mắt nhân dân anh hùng, nhưng mình chưa bao giờ dừng thực hiện những mơ ước đó.

thiet-ke-co-so-du-lieu1-21-728