Chút tào lao khi đọc lại cụ Nguyễn

Giả sử trong cuộc đời này có một thứ được gọi là bản thể. Và giả sử rằng, bản thể có thể thay đổi theo thời gian, từ những thứ không phải là nó và chính từ những điều nội tại trong nó.

(Hẳn là mọi người sẽ nghĩ rằng ta lại bắt đầu một chuyện gì đó đao to mà sáo rỗng, hoặc là viết một thứ gì đó rỗng tuếch một cách hời hợt, .v.v. Có thể mọi người nghĩ đúng rồi đấy!)

Từ mùa hè năm ngoái tới bây giờ, ta cảm thấy mình thay đổi và có nhiều điều mới mẻ hơn, so với khoảng thời gian trong năm năm trở lại. Ta có những người bạn – người thầy mới, được học những thứ mới, có những góc nhìn mới. Ta như một ổ cứng mốc meo tràn đầy dữ liệu, nhờ được sắp xếp và nén lại nên có thêm dung lượng cho những dữ liệu mới.

Những điều ta được học trong hơn một năm qua thật sự mới mẻ so với kiến thức, kinh nghiệm mà ta đang có. Trước đó, những kiến thức – thông tin mà ta biết về những điều đó rất chung chung và thiếu rõ ràng. Ta sau này tự AQ rằng do ngành học của mình gần như không liên quan tới những mảng đó, nên không biết là chuyện thường! Có học có hơn!

Đến bây giờ, ta đã có thêm những cách nhìn, cách đặt vấn đề mới và có thể nhìn một cách rõ ràng hơn. Ví dụ như pho mát không phải chỉ là pho mát mà có rất nhiều dạng, nhiều loại pho mát. Pho mát trong bánh kẹp của Jelly Bean Quang Trung khác với pho mát que ở ngã tư quốc tế Tạ Hiện – Lương Ngọc Quyến, khác với pho mát dây bán ở Hải Xồm, khác với pho mát dây của chủ quán bia số 7 Hàng Mành. Và tất nhiên rất khác với mozzarella, emmental, cheddar tại một số nhà hàng Âu hay Sofitel Metropole huyền thoại. Sự đa dạng cũng tồn tại trong mọi khía cạnh xã hội, từ các hệ hình, chủ nghĩa cho tới nghệ thuật, văn hóa, khoa học … Có kẻ đã vui với những sự thay đổi trong mình.

Nhờ có bạn bè anh em, ta đọc và tìm hiểu các vấn đề một cách nghiêm túc và hệ thống hơn. Điều này giúp ích rất nhiều, không chỉ trong học tập, trong công việc hiện nay mà còn rất nhiều lĩnh vực khác trong xã hội, từ đời sống, nghệ thuật cho tới triết học.

Ta có phải là sản phẩm tạo thành từ những điều chúng ta suy nghĩ và tin tưởng?

Chiều nay, ta tự hỏi có phải là mình đã quá “duy tha” hay không? Ta có mải chạy theo những thứ ở bên ngoài mà quên mất lòng mình hay không? Ta có làm rơi những cốt cách, những giá trị mà ta đã từng có? Ta có đánh mất hay thậm chí quay lưng vào những điều mình đã từng tin tưởng? Ta cần phải lo cho những thứ bên trong ta trước đã, tại sao lại đi ca ngợi, bao đồng những thứ bên ngoài thiên hạ? Có khi nào ta đã hậu hĩnh với thiên hạ mà bạc bẽo với bản thân? (Đến đây, tự thấy mình ích kỷ thật!)

Ta vui với những thứ ta đang lựa chọn, những thứ ta đang có. Ta vui với tốc độ hiện đại hóa như vũ bão của nhân loại. Ta vui với trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, nền kinh tế chia sẻ hay những sự đổi mới trong từng phút, từng giây… Để rồi, trong một chiều muộn, ta thấy lại mình trong những truyện ngắn của Nguyễn Tuân. Ta thấy mình trong người chơi contrebasse tên Xuân, cậu ấm Hai hay ông Phó Sứ, Kinh Lịch. Ta cứ tưởng mình đang cập nhật liên tục trong cuộc đời nhưng hóa ra, ta vẫn chỉ hóa tượng ở những năm 30 – 40 của thế kỷ trước.

Bản thể, theo như giả định trên đầu bài viết, là thứ có thể bồi đắp và thay đổi theo thời gian. Nhưng bản thể là có hay không có thì với ta cũng không còn quan trọng nữa rồi.

IMG_20171204_175703

 


Advertisements

Sống mòn (2017)

“Thành phố tạo nên một hệ thống luật định mang tính ngoại lệ trước thế giới, tự định nghĩa đời sống sao cho mọi cư dân bên trong nó bị ám thị rằng, nơi họ đang sống với trăm mối cơ khổ là một nơi ưu việt nhất quả đất.”

“Thị dân sống trong sự tự do mòn mỏi, hành phúc mòn mỏi và ngoại lệ mòn mỏi.

“Không văn học, triết học hay nghệ thuật. Bởi những thứ đó quá nguy hiểm, chúng hé lộ sự chống đối từ nội tâm. Mà yên tâm đi, khả năng vùng vẫy quằn quại hay chống cự qua nhiều thế hệ, cũng đánh mất luôn rồi trong tâm thức thị dân. Cứ sống thôi.”

23721767_1720401701316794_501991078_n

Ba đoạn trích dẫn trên, mình trích từ cuốn “Những thành phố trôi dạt” của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên.

Tấm ảnh là đoạn trích được bạn gửi cho mình lúc chập tối.

Mình lâu nay vốn sống trong ảo tưởng và sự vô nghĩa. Mình biết điều này mà.

Những mình không muốn thay đổi, hoặc ít nhất là chưa đến lúc để thay đổi.

Cứ cười mình đi ạ.

Chạy Bộ

 

Những ngày dậy sớm chạy bộ ( có nghĩa là nhiều khi tốc độ chạy bằng tốc độ đi bộ ) , ta thường tự hỏi lý do cho việc này là gì?

Nếu là vì sức khỏe thì không hẳn vì sáng sớm, sau khi ngủ dậy, thể dục cường độ cao không hẳn là quá tốt. Giờ lý tưởng nhất trong ngày để tập là từ 17h – 19h.

Nếu là vì bạn chạy cùng thì cũng chỉ đúng một phần. Nhà hai đứa gần nhau, chưa vợ, gặp lúc nào chẳng được.

Phải chăng đó là vì thiên nhiên, trên trời và dưới đất?

Trong những ngày đầu tháng 11, bầu trời đã đầm đậm hương thu, đã thật nhiều những run rẩy lá vàng trước gió ( mà cũng có thể là do ảnh hưởng của bão ), tôi thấy thật nhiều điều tuy buồn mà đẹp hơn bao giờ hết, bởi vì đã bắt đầu lác đác những chiếc lá rơi trên nóc tháp Hòa Phong mát rượi bàn tay chạm tới. Cái tôi thấy là những cơn gió từ những vòng xe đạp lại qua, từ những người chạy dài dưới lòng đường phần vỉa hè sát hồ, từ mùi thơm thanh xuân con gái hay những cái quẫy cuối cùng của một bạn cá xấu số bị kéo từ dưới hồ lên. Có những thứ chính mắt tôi nhìn thấy. Có những thứ chỉ tâm tưởng tôi thấy thôi, vì hình ảnh đó đã xuất hiện cách đây một ngày, một tháng, một năm hay một thời gian nào đó trong gần ba mươi năm trở lại.

“Cây là hạt nở mà thành
Em nơi ấy, ở trong anh lúc này.”

( Tuấn )

Tất cả những gì người thấy, có lẽ ta chẳng thấy và tất nhiên, điều ngược lại cũng đúng. Chẳng chung một bầu trời, chẳng cùng một mặt đất, chẳng giao hòa ở bất kì cái gì, dù chỉ là một điều nhỏ nhất.

Chắc hẳn sẽ có người nghĩ rằng sao không tập trung vào mà chạy đi, nghĩ linh tinh để va vào người lạ hay vấp ngã thì sao? Không lo giữ nhịp thở, cứ nghĩ linh tinh rồi có chạy cả năm nữa thì vẫn yếu và đuối như mình vốn thế.

Ừ, chạy tiếp đây!

 

 

 

 

Chuyện mình

– “Tuấn ạ! Em đi có mấy tuần mà thấy cái gì cũng mới.” – bâng quơ cô nói.

– “Đổi thay là chuyện tất yếu, em nhỉ?”

Tất cả mọi thứ thay đổi từng ngày, từng giờ.

Đó là lòng người, thói quen, cách suy nghĩ, cách đối xử… Ví dụ như trong cuộc sống thường nhật.

Đó là những dịch vụ, hàng quán café ăn uống. Ví dụ như là Loving Vicent đã ngừng chiếu một cách bất ngờ (bạn mình bảo thế).

Đó là những con đường…

Và tối nay, cả trong việc cấm đường.

Bình thường, phố đi bộ vẫn mở một đường sống cho nhân dân đi từ khu Cửa Nam về Trần Quang Khải. Lối đó thông từ Hàng Bông, Hàng Gai về qua Cầu Gỗ. Đường siêu đông, siêu tắc do nhân dân thường chủ động biến Cầu Gỗ từ một chiều thành hai và taxi thường đỗ thành hai hàng để đón trả khách. Nhưng khó thì khó, vẫn đi được!

Tối nay, độc đạo bất ngờ bị cấm, từ đầu Hàng Gai – Lương Văn Can. Nếu ương ương lai láng như thường thì đi Lương Văn Can – Hàng Hành – Hàng Trống – Lê Thái Tổ rồi vòng Hai Bà Trưng – Nhà Hát Lớn về. Nhưng đến ngày đến tháng, dại thì cứ dại thôi! Đi đường làng ta mà ta vẫn dại. Hàng Bồ tắc cứng. Hàng Buồm cấm đường. Thuốc Bắc vẫn như mọi khi, vẫn buồn như thế.

Lòng vòng mãi, rồi cũng về đến nhà.

Gọi điện khoe bạn, bạn trêu bảo đó là cảm giác vong thân giữa hồ con rùa.

Một con đường chỉ có ý nghĩa, khi nó được nằm cạnh những con đường khác. Điều đó cũng tương tự như con chữ, nó chỉ có nghĩa khi được đặt trong một không gian kí tự.

Cuộc đời cũng có đầy mưu mẹo và luật lệ như con chữ. Mỗi một lần nhấc bút, ta để lại một từ. Khi mỗi từ được viết ra, tất cả những từ đã viết sẽ rung động, đến nỗi chính người viết cũng chẳng thể tiên liệu chính xác. Những thay đổi các giá trị do đó phát sinh, tùy theo trường hợp sẽ có thể là hư vô, mà cũng có thể là trầm trọng. Có những chữ, khi được viết ra, có thể gây cách mạng cho cả đoạn, thậm chí cả bài văn để rồi để lại những hệ quả. Sự tạo ra của con chữ là một sự kiện tách biệt với tình thế của những con chữ đã hoặc chưa được sinh ra.

Phải chăng con chữ sinh ra vốn là vô ích … như những con đường?

Tất nhiên, Lý Thái Tổ giờ này vẫn nườm nượp, chẳng vắng như An Dương Vương hay Giảng Võ.

Hà Nội, một ngày buồn hơn nhiều ngày khác.

“Có những điều chỉ cần giữ yên là được”

“Và giữ tim mình trong veo”

Có phải yêu khi chỉ tin chính mình?

Yêu nhau để có bao lâu được bên nhau?

Hai mặt phẳng xa lạ chợt một ngày gặp nhau. Nếu đồng phẳng, ấy là sự giao hòa. Nếu lệch phẳng, chúng chỉ giao nhau tại một đường duy nhất, để rồi mãi mãi chẳng gặp lại!

Trong không gian, có những mặt phẳng chỉ giao với một mặt phẳng duy nhất, nhưng cũng có những mặt lại giao với nhiều mặt khác nhau. Để rồi, sau mỗi lần đi qua, sẽ là những tiếc nuối, những vụn vỡ, những hoài nghi, những lo sợ sự tái bắt đầu hay muôn vàn thứ nữa…

 

Trong L’Eclisse của Michelangelo Antonioni, ta thấy Ricardo đã để lại nhiều lo âu, hoài nghi và sợ hãi cho Vittoria sau sự chia tay dù Vittoria là người chủ động nói trước. Để rồi, khi trái tim rung động mãnh liệt trước Piero (chàng trai mang khuôn mặt tinh nghịch, hồn nhiên), nàng vẫn luôn dè chừng, kìm nén những cảm xúc chỉ trực trào dâng của chính mình. Những gần gũi, âu yếm tưởng như tự nhiên, thực ra luôn bị một chiếc phanh vô hình hãm lại. Cô lo sợ mình sẽ lại mất mát và trống rỗng. Cô chỉ tin trải nghiệm và dự cảm của mình, bất chấp những chân thành mà Piero mang lại. (Phải chăng những ai mang tên Piero đều luôn gánh trong mình những nổi buồn thiên thu vạn tải, như Del Piero thần thánh trong ta?)

 

 

Niềm tin cũng là điều hiện hữu nổi bật trong Closers của Mike Nichols. Mấu chốt của những sự chia ly trong film này là niềm tin không trọn vẹn, của những chàng trai dành cho người phụ nữ của mình. Không tin nên không yêu, đó là chuyện ai ai cũng biết. Yêu mà không tin, đó là bi kịch. Tin mà không yêu, đó là chuyện bình thường như cân đường. Và bi kịch xảy ra khi cái tôi của người đàn ông va chạm với chính tình yêu của mình dành cho người phụ nữ. Họ nghi ngờ chính tình yêu và sự chung thủy nơi người phụ nữ bên cạnh mình, bất chấp chính bản thân họ hiểu tương đối rõ về những chân tình đó. Cuối cùng, tất cả chỉ như một giấc mơ dài.

Hai bộ film tuy cách nhau khá xa về niên đại, nhưng theo thiển ý của tôi, đã giao nhau tại một điểm. Đó là cái tôi cá nhân và sự ích kỷ đã làm hại tình yêu, khiến người với người chẳng thể sống ở bên nhau để viết lại / viết nên những câu chuyện cổ tích. Người với người tưởng như đã gần nhau lắm, nhưng rồi lại xa và mất nhau. Vittoria đã tin vào dự cảm của mình, bất chấp những chân thành và tươi mới từ người bạn trai. Hai chàng trai của Mike Nichols vẫn luôn hoài nghi, thậm chí là nghi ngờ lòng chung thủy của bạn gái. Hóa ra, niềm tin vẫn luôn thứ xa xỉ trên mặt đất này, dù là thế kỷ XX hay XXI.

Vậy có còn nên tin vào tình yêu? (Tối nay, ông giáo bạn tôi cũng hỏi câu tương tự).

Và khi đã yêu rồi thì đành tin hoặc chấp nhận thôi, phải không?

Khó thật, dù một thời ta từng ra rả : “Dầu tin tưởng: chung một đời, một mộng – Em là em, anh vẫn cứ là anh – Có thể nào qua Vạn Lí Trường Thành – Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật”!

Hai người sống trong hai môi trường, mang hai cách sống khác nhau. Để đòi hỏi sự hòa hợp, đó là điều rất hiếm xảy ra ngay trong những khoảng thời gian đầu. Nhưng nào mấy ai chịu chấp nhận thỏa hiệp, trong cuộc sống đầy sôi động và biến đổi với tốc độ của vài cái chớp mắt? Sự cương cường, thâm chí là kiên quyết sẽ dẫn chúng ta đến đâu? Lúc này, tình yêu sẽ còn đóng vai trò gì giữa hai người xa lạ? Hay tình yêu chỉ còn là thứ yếu, vì người ta sẽ xét trước những giá trị phù hợp, từ vật lý tới tinh thần? Thực tế một chút cũng chẳng phải là quá tệ nhỉ? Nhưng ai biết được chúng ta sẽ làm gì khi điều đó xảy ra?

Nếu ta nhìn mọi thứ tích cực hơn (không tiêu cực như mấy thứ vừa lảm nhảm bên trên), cũng sẽ có nhiều điều thú vị đấy chứ. “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Những cái gì giống nhau thì mới có xu hướng tìm về với nhau. Ta tưởng là dị biệt, nhưng những thứ ấy đều nằm trong một thứ đại đồng. Quy luật chọn lọc tự nhiên cũng thích kết hợp những thứ khác biệt, vì từ đó dễ chọn ra những thứ tối ưu hơn những trường hợp cùng tốt hoặc cùng xấu. Ta học những điểm mạnh của nhau thì tất nhiên, những thứ yếu sẽ giảm đi. Vì thế, người với người vẫn gặp nhau và bên nhau chứ!

Mấy lời phù phiếm trong đêm nay, khi trăng Hà Nội đã sắp tròn.

Còn New York … ?

dia-diem-trong-trang-chup-anh-ly-tuong-dip-trung-thu-hinh-4

 

DIỄN NGÔN

Bản chất cuộc đời vốn luôn nằm ở ranh giới giữa sự trọn vẹn và không trọn vẹn, trong suy nghĩ của mỗi kẻ chịu sự đọa đày trong kiếp sống cô đơn.

tumblr_owshp4XDSh1t0sh8oo1_540
Khi bạn ở đang ở trên đỉnh cao rực rỡ, từ trong bạn đã có mầm mống của sự lụn bại. Khi bạn đang lâng lâng trên bốn bề mây nước, bạn đã mất một thứ gì đó vô cùng quý giá mà bạn không biết. Có những sự mất mát có thể đếm đo nhưng cũng thật nhiều sự mất mát sẽ khiến ta lọ mọ cả đời mò kim đáy bể. Má trái, má phải và mọi bộ phận trên cơ thể ta có thể phải chịu nhiều cú bạt từ cuộc đời, nhưng ít nhất, ta có quyền chọn cách hành xử đối với những gì ta phải đối mặt.

7d28c724755a4e712acc1def21880c89
Ta dễ chủ quan trước những ma mị và cạm bẫy cuộc đời. Ta dễ say mê trước những nụ hôn bất ngờ chứa đầy mật ngọt. Ta dễ run rẩy trước những cái ôm bất chợt từ phía sau đi kèm theo một cái gì đó thật sâu và thật lặng. Và cả những đắm đuối, rung cảm, đụng chạm một cách tinh tế, siết chặt như một cái gác chân. Ta quá say mê khi ở bên những điều ta cần, mà ta quên mất những gì ta có thể mất.
Sự trọn vẹn hay không trọn vẹn, chính ở những giây phút còn lại sau cơn bão đi qua. Sự hẫng hụt chẳng bao giờ vắng mặt. Ta tập làm quen, xoa dịu và sống chung với nó thôi, chứ biết làm sao?
Có một đoạn tản văn mà ta từng bao năm lâm râm tụng niệm : “Có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ yên. Có người bỏ cuộc tình mà đi như một người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên nơi này để tìm về một chốn khác. Phụ đời và phụ người cũng như thế mà thôi. Người ở lại cũng nhớ thương một bóng hình đã mất. Khó mà quên nhau, khó mà xoá trong nhau một nỗi ngậm ngùi.”

Ai rồi cũng phải ra đi, chẳng có ai trụ lại mãi ở cõi đọa đày này. Mai sau khi người đã đi rồi, người còn nhớ gì về ta không?

giá sách

Chúng ta là món ăn chính hay chỉ là gia vị cho cuộc đời của nhau?
Cô đơn gặp cô đơn liệu có chẳng còn cô đơn?
Liệu bầu trời sao đêm ấy có đủ sức tác thành nên một chút diệu kì, hay chỉ là chứng nhân bất đắc dĩ cho một câu chuyện như bao chuyện cũ?

Link cũ : https://www.facebook.com/notes/tr%E1%BA%A7n-qu%E1%BB%91c-tu%E1%BA%A5n/di%E1%BB%85n-ng%C3%B4n/10154507022744417/

Em thấy con người đẹp chứ?

Không khí mấy hôm trước dường như đặc quánh lại. Xen lẫn sự oi nồng hiếm thấy ở đầu thu là mùi tro vàng mã bay dày đặc trên suốt những hàng cây, góc phố. Chỉ mười lăm ngày và mười lăm ngày này thôi, mật độ dân cư ở đô thị này sẽ tăng lên gấp mười, à không, gấp cả trăm lần. Mười lăm ngày của âm dương hòa hợp. Mười lăm ngày mà việc cấp visa lên hạ giới từ địa phủ trở nên dễ dàng hơn tất cả những quãng thời gian khác trong năm. Mười lăm ngày mà cái chết được nghĩ tới nhiều không kém gì sự sống. Mùa này trong đạo Phật gọi là mùa Địa Tạng. Còn trong đạo Yêu, người ta gọi là mùa Ngâu.

Mùa Địa Tạng là mùa của vong, là tinh anh, là thể phách của những người từng sống và tồn tại. Mùa Ngâu cũng là mùa của người đã mất, cũng là thể phách, là tinh anh của hai kẻ cũng từng sống và tồn tại, có chăng khác biệt là chết trong sự nhớ nhung, sự chia cách và những gia vị hồi ức.

Hôm nay, không khí trở lại mùa thu như nó vốn dĩ, kèm theo những cơn mưa ồ ạt, đủ làm phố ngập sâu. Mưa mùa thu nhưng chẳng còn như nước mắt ai nhớ nhau nữa. Những cơn mưa đủ để che kín màu đèn của con phố bên hồ. Những cơn mưa cũng đủ để làm con người chợt sợ hãi, vì có thể sẽ đến một ngày mà niềm vui cũng chỉ để vơi đi nỗi buồn, cạn đi nỗi nhớ. “Mưa trời rồi sẽ tạnh, nhưng mưa trong lòng thì sao?”

Tình yêu nhiều khi đẹp bởi sự chia ly. Cái chết đẹp vì là tận cùng của cái sống. Nỗi nhớ cũng đẹp em nhỉ? Thế còn con người? “Con người đẹp vì đâu hả em?” Nó có như ngôi nhà kiên cố ở phố ấy? Ngôi nhà không kiên cố bởi kiến trúc hay giá trị của nó. Ngôi nhà kiên cố bởi những ẩn giấu, những chứa đựng trong lòng nó. Phải chăng con người cũng vậy, đẹp nhờ tâm hồn hay những gì ẩn giấu thẳm sâu trong nó phải không?

Nghĩ về em, ta lang thang trong ba nghìn thế giới, ta bỗng thấy mình lạc vào cõi vô hình vô sắc…

Những con người thất thểu, từng đoàn từng đoàn lẫn lộn bước đi dưới tinh kỳ của một dị nhân lưỡi dài.

Những đoàn người phục trang sặc sỡ hát ca, tung hoa trên những nơi mà bàn chân chạm tới.

Những đoàn người oai phong lẫm liệt, gươm giáo súng đạn uy nghi chỉnh tề ngay ngắn.

Những văn nhân “phong lưu tài mạo tốt vời” dưới những bóng tùng, ung dung nghiêng mình trên cánh hạc.

Bỗng như một cái tát làm ta giật mình và hoang mang, trong thăm thẳm lời từ đâu vọng lại :

“Không có hạc vàng, mây trắng đâu

Chẳng có người tiên, chẳng có lầu

Tưởng hạc vàng đi, mây trắng ở

Lầm Thôi Hiệu trước, Nguyễn Du sau…”.

Thơ cũ chưa dừng thì đâu đó chợt ngân lên đôi câu :

 “Tương tiếu nhất thanh song lệ lạc

Khả liên bán điểm thấp châu huyền”

Một tiếng đại đao chạm vào Cao thánh, kết thúc một tiếng nói khác ở xã hội Việt Nam, trong thời kỳ rực rỡ cuối cùng của văn học Việt Nam vào buổi cuối trung đại, đầu cận đại. Nhát đại đao đã cuộn vào biết bao nước mắt, từ những bậc tài tử vương giả như Miên Thẩm, Miên Trinh … cho tới những sĩ phu đương thời như Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu … Phải chăng “Tài Hoa Là Nợ”?

Người tài mỗi người mỗi hướng, mỗi thân mỗi chí nhưng đều giao nhau bởi cái tâm rộng mở. Những giọt nước mắt xót thương mà Nguyễn hầu dành cho chúng sinh muôn loại, nếu không nhiều như mưa hồ Tây đêm nay thì chắc cũng ít hơn là mấy. Những giọt nước mắt xót thương từ công hầu khanh tướng cho tới kẻ thảo dân cùng cực, tới cả những hạng cùng đinh trong xã hội đương thời. Lúc sống dẫu bị phân chia, nhưng khi đã mất đi thì ai cũng như ai trước Phật, trước Tiêu Diện đại sỹ.

Con người thật đẹp, em nhỉ? Cái đẹp đâu chỉ ở trong thế giới tinh thần. Cái đẹp còn hiện hữu trong những sự tương tác độc lập và giá trị tự thân ở mỗi cá thể. Cái đẹp cũng có những khi hiện hữu trong việc “quyết tâm thực hiện hành vi đến cùng”, như cái chết của Romeo & Juliet, như tình cảm của Marguerite & Duval. Hay cái đẹp nằm ở sự mới mẻ của chính nó? Hay cái đẹp nằm trong những sự bất toàn? Bạn bè vẫn bảo là cái đẹp ở khắp mọi nơi cơ mà nhỉ?

– “Giữa cuộc đời đầy bất định, anh không chỉ hay viết những điều nhảm nhí mà còn quá độc đoán phải không em?”

– “Em thấy con người đẹp chứ?”

 

Nguồn : https://www.facebook.com/nhungcamxuctrongveo/

Niềm tin của rắn.

Trong chương 4, phần 1 của Anh Em Nhà Karamazov, khi Aliosa nói chuyện với cha về niềm tin và mong muốn của mình, lão Fedor đã có những phản hồi khiến nhiều người phải suy nghĩ.

600x325_bro-k-1

Người ta có niềm tin vào Chúa nhưng người ta chẳng tin vào những thầy tu. Người ta sợ quỷ dùng móc câu lôi đi nhưng ai biết ở dưới địa ngục có xưởng rèn móc hay không? Người ta sợ địa ngục nhưng ai biết nó có trần hay không? Nếu không có trần thì sao gọi là ngục? Rồi lão Fedor chia sẻ với con trai về những thứ không thật, những ý niệm của con người về sự vận động của cái thiện và cái ác, những mặt trái của những điều tốt đẹp.

Kết thúc chương 4, phần 1, dẫu nhìn ra (dù đúng hoặc sai) vô vàn mặt trái của những điều tốt đẹp, của những niềm tin nhưng lão Fedor vẫn ủng hộ Aliosa đi theo niềm tin của mình.

Ta thường giống như Aliosa khi còn thiếu niên và dần dần sẽ giống như lão Fedor khi đã trưởng thành rồi về già. Ta thường thấy những điều tốt đẹp khi còn thơ ngây, trong trắng về nhận thức nhưng rồi sẽ nhìn thấy những mặt trái, những điều không như ý khi đã trải qua nhiều câu chuyện, nhiều thời gian. Có mấy ai vui về những điều đó?

Từ ngày internet phổ cập, lượng thông tin chúng ta tiếp thu ngày càng nhiều hơn. Trong khóa học gần đây về khoa học dữ liệu, tôi được biết lượng thông tin chúng ta tiếp cận trong một năm (hiện nay) nhiều bằng lượng thông tin người xưa tiếp cận trong một đời(cách đây vài thế kỷ). Thông tin đa dạng, đa nguồn. Chúng ta là những khách hàng của những bên cung cấp thông tin, tòa báo, đơn vị truyền hình, … Phần lớn thông tin chúng ta tiếp xúc là những thông tin mang trạng thái tiêu cực. Từ những vấn đề vĩ mô cho tới những điều nhỏ nhặt, từ những vấn đề ngoài nước cho tới những thứ trong nước, từ cái đề văn chẳng liên quan gì tới mình cho tới những bất công xã hội mà chẳng biết khi nào mình bị nó sờ gáy… Ta sẽ mang tâm thế nào giữa những ma trận trùng trùng tiêu cực này? Ta có thể làm gì để giữ được niềm tin vào những điều tốt đẹp?

“Sống bằng niềm tin” – Câu nói cửa miệng của những đứa học sinh cấp 2, cấp 3 lứa cuối 8x, đầu 9x giai đoạn 2004 – 2007. Tôi nhớ câu nói đó hàm ý mỉa mai, nói về việc ai đó mong muốn làm được những thứ không thể, không có cơ sở hoặc ngoài khả năng. Nhưng bây giờ, dường như “Sống bằng niềm tin” có thể mang thêm những tầng nghĩa mới. Khi cuộc sống của người ta càng bấp bênh, bất an, ngoài vòng kiểm soát, người ta càng cần đến niềm tin. Niềm tin có thể đến từ tôn giáo – tín ngưỡng, từ lòng tốt hay từ bất kì điều gì người ta có thể tin vào, nhưng chắc chắn đó là thứ người ta không bao giờ có thể vứt bỏ. Niềm tin là thứ để ta đến gần hơn với những điều tích cực, cái tốt, cái đẹp trong cuộc đời hoặc ít nhất là khiến ta có xu hướng lựa chọn nhiều hơn.

Những điều xấu thì dễ đồn xa. Những điều đẹp đẽ, thật thà thì chẳng nhiều người quan tâm tới, như những điều xấu. (Đương nhiên cũng không phủ nhận là các tòa báo sống nhờ quảng cáo và tỉ lệ hiện thị, click, like, share bài viết sẽ cao vọt khi đăng tin tiêu cực). Cả xã hội từ bạn trẻ tới người già như lên đồng để thóa mạ, chê bai một đoạn văn trong cuốn sách của anh tiến sỹ nhưng chẳng ai biết được sự quan tâm của anh tới những người cận tử. Người ta luôn chê bai nền giáo dục là thấp kém, chậm phát triển nhưng không biết tới những người giáo viên luôn hết mình vì học sinh, luôn thay đổi những khung dạy, những cách dạy truyền thống để học sinh có thêm những cách tiếp cận mới. Người ta luôn chê bai một hệ thống y tế kém chất lượng nhưng không bao giờ xem các số liệu thống kê để biết rằng tỉ lệ nhiều bệnh nhân trên mỗi giường bệnh đã giảm theo thời gian, đội ngũ y bác sỹ đã phải làm việc căng thẳng và mệt mỏi ra sao những vẫn hết mình vì công việc… Không có gì là tuyệt đối, kể cả cái tốt và cái xấu. Ta biết cái xấu, cái chưa tốt và ta phê bình, đó là điều bắt buộc phải làm để mọi thứ tốt lên nhưng ta không có quyền phủ định tuyệt đối những giá trị đang tồn tại vì chẳng có sự tuyệt đối nào tồn tại trong những giá trị, hiện tượng, sự vật xung quanh. Một người chê chẳng sao, một trăm người chê cũng chẳng sao nhưng nếu cả vạn người chê thì người thứ vạn lẻ một có đủ bình tĩnh để đọc hết vấn đề rồi mới chê không hay sẽ lập tức chê theo cả vạn đồng bào của mình?

Ai cũng sẽ khác khi trôi đi trong dòng chảy cuộc đời. Thật khó (dù có thể là có) để ai trong số chúng ta có thể mãi mãi là một Aliosa như khi Aliosa đang mong muốn bước vào tu viện (có thể bạn đang nghĩ đến Đường Huyền Trang trong Tây Du Ký hoặc Peter Pan ở Neverland phải không?). peter_pan_1

Nhưng ta vẫn phải giữ thôi, vì chẳng có niềm tin thì ta sẽ chẳng thể nào bước qua được cuộc đời với đầy rẫy những điều ta không biết, ta chưa hiểu. Niềm tin là thứ chẳng ai có thể tước đoạt của ta, một ý niệm cá nhân rất riêng tư và kín đáo. Niềm tin là thứ phá vỡ những bức tường ngăn cách tưởng như không thể đạp đổ. Niềm tin là thứ giữ lại cái đẹp trên mặt đất, sau khi chủ nghĩa lãng mạn chết đi.  Niềm tin là động lực để ta có thể ngây thơ làm nên những điều không tưởng trong cuộc đời này.

Chẳng phải ngây thơ là đặc điểm nổi bật của những người cách mạng hay sao?

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 1989 : 01h18.

 

Trong sắc hoàng lan

Sáng nay, bạn qua nhà sớm. Mắt nhắm mắt mở trùng trục đi ra, bạn cười và đưa cho một chiếc hộp.

IMG_20170624_082232

Mùng một tháng sáu, thế là đã có hoa. Hoàng lan vẫn còn xanh. Nhài thơm ngào ngạt bên cạnh mẫu đơn và hoa cau. Định sang Lý triều xin mấy lá trầu nhưng mà lười quá, thôi thì có sao dùng vậy!

Ngày xưa, người ta hay kiêng hoa nhài trong việc thờ cúng. Hoa nở ban đêm dù thơm, dù đẹp, dù tinh khiết đến mấy cũng chẳng phải là loài đoan chính, dù có thật thơm, thật đẹp nhưng cũng chỉ dùng trong phòng chứ tuyệt đối không để lên bàn thờ. Suy nghĩ của các cụ ngày xưa có thể chẳng còn hợp thời nhưng các cụ có lý của các cụ.

IMG_20170624_090706

Rửa lại một lần, hoa được bày lên đĩa sứ trắng sạch với ba loại thôi. Mùng một thế này cũng gọi là tươm rồi.

Nhìn đĩa hoa trên bàn thờ chợt nhớ lại thuở xưa. Có một thời, hoa chưa được bán bằng gánh, bằng xe đạp như bây giờ. Hoa được bán bằng đĩa, được bày biện sắp xếp bởi những nhà hàng hoa. Cứ mùng một, ngày rằm, những nhà hàng hoa lại mang một đĩa hoa đến cho gia chủ. Trước là ân sâu Phật Thánh cùng gia tiên tiền tổ, sau là trang trí gia môn. Cái lệ ấy dường như đã ngắt quãng từ lâu, đến giờ thì chẳng còn mấy ai theo cả.

Yêu hoa, chơi hoa là truyền thống có từ lâu của người Việt. “Chơi hoa có cả trăm đường”. Mỗi người một nghệ, mỗi người một tinh. Người thích thả trong bát. Người thích dùng bàn chông. Lại có người thích bọt biển. Cũng không hiếm người thích lọ từ nhỏ đến to, từ thấp đến cao, từ đơn tới đa. Người thích kiểu Nhật, kiểu Tàu. Người thích cắm lẫn màu kiểu những năm 80 của thế kỷ trước. Có người thích quy tắc. Có người tùy sở trạng. Người ưa mùi. Người chơi màu.

Hoàng lan xanh quá!

Bên cạnh mùi hoa sữa, Hà Nội còn màu hoàng lan, còn mùi hoàng lan. Một màu xanh đặc trưng và khiêm nhường trong bạt ngàn loài hoa. Màu xanh chẳng ám ảnh như màu mái tóc của người con gái trong bài thơ của tác giả yêu hoa sim ngày nào. Màu xanh cũng chẳng như những điều được chạm tới trong truyện ngắn của Thạch Lam. Màu xanh chẳng hiển nhiên như bầu trời thu Hà Nội. Màu xanh này rất hoàng lan.

Đó là màu của tuổi trẻ, màu của những điều đang qua.

Đó là màu của tiếc nuối, khi đã ở vào tầm tuổi của người viết – một hời hợt trung niên vẫn luôn hoang mang vì những điều gần gũi nhất.

Đó là …

 

Viết lên bầu trời.

Em vẫn đang trên bầu trời, để đến một chân trời mới mà ta chưa bao giờ chạm tới.

Cuộc đời nếu chỉ ổn định (dù là nồng nàn ổn định hay đều đều ổn định) thì chẳng may mắn một chút nào. Ta cần những khoảng lặng, những nốt trầm, những cách xa để có thể nhìn nhau cho rõ, để biết đã nhớ mùi cổ tay nhau chưa?

Giống nhau làm tri kỷ. Ngược nhau làm kẻ thù. Lẫn lộn thì còn phải xét, đúng không?

Mọi thứ đến như sự sắp đặt của vô thường, với những con đường ngập tràn năng lượng tuổi trẻ – thứ xa xỉ xa với ta, một kẻ đã “toan về già” trong một thân hình cận kề trung niên. Những cảm xúc tưởng như tuyệt chủng từ một thời đã xa cứ cuồn cuộn ùa về như thể là sự đền bù của đất trời cho “trung niên nghiêm túc” trong guồng quay bất định của cuộc đời.

Thói đời âm – dương tương hỗ, chẳng trạng thái nào tồn tại độc lập tuyệt đối. Ở đất độc sẽ có cây giải độc mọc lên. Từ trong những bất định đô thị sẽ lại mọc lên những tất định, làm ta thấy bình yên tàm tạm, cho đến khi những bất định, “vong thân” trở lại xâm chiếm tâm hồn. Ta lại tiếp tục xoay vần trong những chuyển mình hàng ngày của đô thị.

Em cao thượng và hồn hậu với ta quá!

Ta linh cảm ta sẽ nợ em nhiều…

Ta thật “sến” phải không?

 

IMG_20170521_214552.jpg

Đâu là chiều sâu nơi bản thể?

Những ngày đẹp trời và rực rỡ của tuổi thanh xuân vẫn diễn ra.

Hôm nay, tôi được nghe giảng về các phương pháp thống kê. Một trong những phần tôi chú ý nhất là “tính hiện sinh của biến ngẫu nhiên”.

Đại lượng biến đổi biểu thị giá trị kết quả của một phép thử ngẫu nhiên, được gọi là biến ngẫu nhiên.

Với mỗi mô hình toán được đặt ra, những dữ liệu thu được vẫn luôn là bất định. Không thể có mô hình toán đưa ra kết quả trùng khớp hoàn toàn với lý thuyết tính toán. Kết quả luôn chỉ là chính nó, khi được sinh ra. Vì vậy, tôi thấy rằng biến ngẫu nhiên có tính hiện sinh.

Hiện sinh (existentialism) là từ dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những người mà tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người — không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động. Hiện sinh có phải là hiện tại, là hết mình rực cháy cho những đam mê, là bây giờ chứ không phải bao giờ khác.

Phải chăng mỗi cuộc đời trong hơn bảy mươi năm có lẽ cũng chỉ là một biến ngẫu nhiên trong một phép thử bất kỳ của vũ trụ trong bao câu chuyện xung quanh?

Cũng phải thôi! 70 năm có thấm vào đâu so với hàng tỷ năm?

Đô thị to lớn như thế mà chứa đầy bất định, nữa là con người nhỏ bé?

Liệu có lúc nào đến chính chân lý cũng tồn tại những sự bất định trong lòng nó?

Tôi vẫn tin khi  ta đẩy không gian ngoại lai đến vô cùng, ta sẽ gặp chiều sâu của bản thể!

Hình ảnh minh họa :

LIM (KHÔNG GIAN NGOÀI) = CHIỀU SÂU BẢN THỂ

Mấy lời ngô nghê về nhạc cụ Việt.

Tối nay, mình loăng quăng bát phố quanh bờ hồ, phố vắng hơn mọi khi, trong không khí se se dìu dịu của con rét đài. Ai cũng tranh thủ xinh đẹp ấm áp, như để bù cho cái Tết mùa hè vừa qua.

Dòng người chẳng quá đông, chỉ tụ ở những nơi có nhạc sống: Một nhóm các bạn sinh viên nghêu ngao ghi-ta đàn hát – Một nhóm khiêu vũ thể thao – Một nhóm nhạc ở đối diện Tràng Tiền Plaza và đông nhất , đó là đội biểu diễn bằng nhạc cụ dân tộc ở khu vực gần nhà Thủy Tạ. Những ca khúc của thế kỷ XX, XXI được thể hiện một cách khác lạ bằng những thanh âm dân tộc. Đó là âm nhạc nước ngoài như Those Were These Days, O Sole Mio… ; có thể là những ca khúc nhạc tiền chiến, nhạc đỏ và tất nhiên, có nhiều bài nhạc trẻ nữa.

Dường như nhạc cụ dân tộc đã trở nên gần gũi hơn đối với thị hiếu và cảm thức của mọi người. Nhạc cụ dân tộc đã không còn là một điều gì quá xa lạ với cuộc sống hiện đại. Phải chăng đó là một điều thật đáng mừng với một nền văn hóa còn đang loay hoay tìm hướng phát triển phù hợp, để tạo ra một thứ bản sắc cho riêng mình?

dan

Nhạc cụ Việt Nam vốn đa dạng, nhưng được nhắc đến nhiều nhất có lẽ là đàn (cầm). Trong cách thú tiêu khiển thanh cao ngày xưa, đàn được nhắc tới đầu tiên trong bộ : CẦM – KỲ – THI – HỌA – ẨM.

Gắn liền với CẦM có thể là LỤC KỴ (đại hàn, đại thử, đại phong, đại vũ, sấm sét, đại tuyết), THẤT BẤT ĐÀN (tang tóc, ồn ào, lòng bối rối, khăn áo không chỉnh tề, không xông trầm, mình không sạch, không gặp tri âm), BÁT TUYỆT (thanh, kỳ, u, nhã, bi, tráng, du, trường), BÁT ÂM (kim, thạch, thổ, ti, trúc, bào, cách, mộc) hay NGŨ ÂM (cung, thương, dốc, trủy, khốc). Bây giờ, chúng ta chỉ còn thường được nghe tới bát âm hay ngũ âm, trong cuộc sống hàng ngày hay các tác phẩm văn học, một trong số đó là truyện Kiều.

tieng-dan

Ta gặp tiếng đàn ở Côn Sơn của Nguyễn Trãi :

“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”.

Ta như chàng Kim mộng tưởng trong tiếng đàn của nàng Kiều (hay phải chăng đó là tiếng lòng của cụ Tố Như)  với hai cung đoạn nổi bật là

So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung, thương .
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau .
Khúc đâu Tư mã Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
Kê Khang này khúc Quảng lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân .
Qua quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia .
Trong như tiếng hạc bay qua,
đục như tiếng suối mới sa nửa vời .
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa “

hay

Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa .
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
ấy là hồ điệp hay là Trang sinh .
Khúc đâu êm ái xuân tình,
ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông !
Lọt tai nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao”.

Hay như tiếng đàn lạ lùng chạm vào phần sâu thẳm yếu mềm của Hồ tổng đốc :

Một cung gió thảm mưa sầu,
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay !
Ve ngâm vượn hót nào tày,
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu .
Hỏi rằng: Này khúc ở đâu ?
Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay !”

Kể về tiếng đàn thì muôn vạn muôn trùng, chẳng biết bao giờ mới kể hết. Những điều tôi viết ra thì mọi người đều biết, chỉ là nhân lúc cao hứng thì viết lại để ghi nhớ cảm giác và làm vui cho mọi người.

Tôi thiết nghĩ âm nhạc cũng như văn chương. Để đọc và hiểu được những tác phẩm khó, có giá trị văn học cao (ví dụ như tác phẩm “Anh em nhà Karamazov”), những kẻ sơ căn thiểu học như tôi cần đi từ những tác phẩm dễ đọc đi lên, để dần có khả năng chạm tới được những tác phẩm khó hơn, nâng cao năng lực cá nhân cảm thụ trong việc đọc. Âm nhạc cũng vậy, chẳng có nhiều con đường hiệu quả hơn. Trước khi thẩm thấu và cảm thụ được những Lưu Thủy, Hành Vân, Tứ Đại Cảnh hay xẩm, tuồng, chèo …), chúng ta có thể trải nghiệm với những tác phẩm hiện đại để biết, để hiểu những cái hay của nhạc cụ Việt.

Gác Sơn Thái

Tháng Giêng, năm Đinh Dậu

Trần Quốc Tuấn kính đề.

 

“Mấy lời tâm phúc ruột rà…”

“Dương chi tịnh thủy

Biến sái tam thiên

Tính KHÔNG bát đức lợi nhân thiên…”

Chữ KHÔNG là một trong những chữ hay được nhắc tới trong đời sống xã hội và tâm linh Việt, là một trong những biểu tượng gốc rễ của nhà Phật. Chữ KHÔNG trong “tứ cú mê” luôn là đề tài được bàn luận từ Thiền môn tới quán bia. Trong Anh văn, nghĩa của chữ KHÔNG là “emptiness” – sự trống rỗng. Thông tin này được nói đến ở nhiều nơi, một trong những nơi khiến tôi nhớ nhất là bản Tâm Kinh Bát Nhã được chỉnh sửa lại bởi Sư Ông Nhất Hạnh.

Khi chúng ta thật tâm mong muốn điều gì, cả vũ trụ sẽ hỗ trợ chúng ta thực hiện điều mình muốn. Có một đôi câu trong Cư Trần Lạc Đạo của Đức Trần Nhân Tông mà tôi rất nhớ :

“Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ đề một đêm mà chin

Phúc tình cờ gặp tri thức, hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông”.

Chẳng biết cái tâm của tôi có mong muốn gì thật không (hiểu mình vẫn là một điều trăn trở với kẻ hèn này) nhưng tôi thỉnh thoảng được gặp những bậc trí thức đúng nghĩa, học rộng hiểu sâu nhưng sự khiêm cung và tính cầu thị chẳng bao giờ mất trong suy nghĩ của họ. Đó có thể là một hai anh thầy giáo gàn (người đời gán thế chứ thực ra họ có một thế giới rất riêng tư và kín đáo), một cô giáo sống hòa hợp cùng thiên nhiên (tỉ dụ với suy nghĩ là đất mình – mình sống, đất chuột – chuột sống, không ai phạm vào thế giới của ai nên mọi thứ đều vui vẻ), đó là một nhà nghiên cứu có nhiều tính hư rất người, rất nhạy cảm về ngôn ngữ và đã trải qua bao lần chính biến…

Tôi biết đến nhà nghiên cứu từ lâu, qua những vần thơ ông sáng tác về 64 quẻ Dịch (dù đấy không phải điểm nổi bật nhất từ ông). Ông am tường về Đông Á học, mang cái nhìn đôn hậu và hài hước, được nhiều người biết đến bởi sự quảng bác của mình. Một nhà trí thức đúng nghĩa, dành cuộc đời nghiên cứu những đam mê cá nhân và chẳng màng học hàm, học vị. Có những người may mắn được đi từ KHÔNG đến SẮC. Ông chẳng may mắn (cũng như bao kẻ đồng tộc đương thời), phải đi từ SẮC về KHÔNG. Nhưng phải chăng vì vậy mà cái KHÔNG được ông kể tới luôn thật nhẹ nhàng và dễ hiểu. SẮC và KHÔNG như tôi nghĩ thường như lòng bàn tay với mu bàn tay. SẮC và KHÔNG từ ông như cái bát và phần không gian trong lòng bát. Vật chất giúp ta cầm, nắm nhưng thứ chúng ta cần sử dụng lại là khoảng trống rỗng/khoảng không trong lòng bát. Nếu không có khoảng không ấy, ta biết làm gì để chứa cơm, chứa thức ăn? Nếu lòng bát đặc thì ta biết làm gì và cái bát có còn là cái bát? Ta cần cả hai điều đó, cả SẮC và KHÔNG, chẳng bỏ đi, thiếu đi được thứ gì cả! Từ suy nghĩ ấy, ta chợt nhớ lạị đoạn cuối trong bài “Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài” của cậu Bảy Chiêu ngày nào :

“Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,
Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,
Chung tri vô tự thị chân kinh .”.

Tôi tạm xin dùng bản dịch là :

“Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến,
Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều.
Cho đến dưới đài đá chia kinh,
Mới hiểu không chữ mới là chân kinh”

Phải chăng chân kinh không phải chỉ là phần chữ, mà gồm cả khoảng trắng giữa các con chữ? Suy nghĩ này tương tự như một điều tôi hay được nghe từ những bạn bè tôi rằng âm nhạc phải chăng là khoảng lặng giữa các nốt nhạc?

Tôi kiến thức nông cạn, chỉ dám xin viết tới đây. Mấy câu viết linh tinh bên trên chỉ là suy nghĩ thiển cận cá nhân, chắc hẳn nhiều người đã biết nhưng kẻ hèn này nhân một lúc cao hứng, mạo muội viết ra, chẳng thể tránh khỏi sự chê cười của hào kiệt trong thiên hạ. Nếu có gì chưa phải, xin được mọi người lượng thứ và chỉ bảo.

P.s : Có một sự tình cờ vui vui rằng nhà nghiên cứu tôi được gặp cũng tên là Chiêu, là con thứ bảy trong gia đình có đông anh chị em.

Gác Sơn Thái

Tháng Giêng, năm Đinh Dậu

Trần Quốc Tuấn kính đề.