Viết lên bầu trời.

Em vẫn đang trên bầu trời, để đến một chân trời mới mà ta chưa bao giờ chạm tới.

Cuộc đời nếu chỉ ổn định (dù là nồng nàn ổn định hay đều đều ổn định) thì chẳng may mắn một chút nào. Ta cần những khoảng lặng, những nốt trầm, những cách xa để có thể nhìn nhau cho rõ, để biết đã nhớ mùi cổ tay nhau chưa?

Giống nhau làm tri kỷ. Ngược nhau làm kẻ thù. Lẫn lộn thì còn phải xét, đúng không?

Mọi thứ đến như sự sắp đặt của vô thường, với những con đường ngập tràn năng lượng tuổi trẻ – thứ xa xỉ xa với ta, một kẻ đã “toan về già” trong một thân hình cận kề trung niên. Những cảm xúc tưởng như tuyệt chủng từ một thời đã xa cứ cuồn cuộn ùa về như thể là sự đền bù của đất trời cho “trung niên nghiêm túc” trong guồng quay bất định của cuộc đời.

Thói đời âm – dương tương hỗ, chẳng trạng thái nào tồn tại độc lập tuyệt đối. Ở đất độc sẽ có cây giải độc mọc lên. Từ trong những bất định đô thị sẽ lại mọc lên những tất định, làm ta thấy bình yên tàm tạm, cho đến khi những bất định, “vong thân” trở lại xâm chiếm tâm hồn. Ta lại tiếp tục xoay vần trong những chuyển mình hàng ngày của đô thị.

Em cao thượng và hồn hậu với ta quá!

Ta linh cảm ta sẽ nợ em nhiều…

Ta thật “sến” phải không?

 

IMG_20170521_214552.jpg

Đâu là chiều sâu nơi bản thể?

Những ngày đẹp trời và rực rỡ của tuổi thanh xuân vẫn diễn ra.

Hôm nay, tôi được nghe giảng về các phương pháp thống kê. Một trong những phần tôi chú ý nhất là “tính hiện sinh của biến ngẫu nhiên”.

Đại lượng biến đổi biểu thị giá trị kết quả của một phép thử ngẫu nhiên, được gọi là biến ngẫu nhiên.

Với mỗi mô hình toán được đặt ra, những dữ liệu thu được vẫn luôn là bất định. Không thể có mô hình toán đưa ra kết quả trùng khớp hoàn toàn với lý thuyết tính toán. Kết quả luôn chỉ là chính nó, khi được sinh ra. Vì vậy, tôi thấy rằng biến ngẫu nhiên có tính hiện sinh.

Hiện sinh (existentialism) là từ dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những người mà tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người — không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động. Hiện sinh có phải là hiện tại, là hết mình rực cháy cho những đam mê, là bây giờ chứ không phải bao giờ khác.

Phải chăng mỗi cuộc đời trong hơn bảy mươi năm có lẽ cũng chỉ là một biến ngẫu nhiên trong một phép thử bất kỳ của vũ trụ trong bao câu chuyện xung quanh?

Cũng phải thôi! 70 năm có thấm vào đâu so với hàng tỷ năm?

Đô thị to lớn như thế mà chứa đầy bất định, nữa là con người nhỏ bé?

Liệu có lúc nào đến chính chân lý cũng tồn tại những sự bất định trong lòng nó?

Tôi vẫn tin khi  ta đẩy không gian ngoại lai đến vô cùng, ta sẽ gặp chiều sâu của bản thể!

Hình ảnh minh họa :

LIM (KHÔNG GIAN NGOÀI) = CHIỀU SÂU BẢN THỂ

“Mấy lời tâm phúc ruột rà…”

“Dương chi tịnh thủy

Biến sái tam thiên

Tính KHÔNG bát đức lợi nhân thiên…”

Chữ KHÔNG là một trong những chữ hay được nhắc tới trong đời sống xã hội và tâm linh Việt, là một trong những biểu tượng gốc rễ của nhà Phật. Chữ KHÔNG trong “tứ cú mê” luôn là đề tài được bàn luận từ Thiền môn tới quán bia. Trong Anh văn, nghĩa của chữ KHÔNG là “emptiness” – sự trống rỗng. Thông tin này được nói đến ở nhiều nơi, một trong những nơi khiến tôi nhớ nhất là bản Tâm Kinh Bát Nhã được chỉnh sửa lại bởi Sư Ông Nhất Hạnh.

Khi chúng ta thật tâm mong muốn điều gì, cả vũ trụ sẽ hỗ trợ chúng ta thực hiện điều mình muốn. Có một đôi câu trong Cư Trần Lạc Đạo của Đức Trần Nhân Tông mà tôi rất nhớ :

“Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ đề một đêm mà chin

Phúc tình cờ gặp tri thức, hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông”.

Chẳng biết cái tâm của tôi có mong muốn gì thật không (hiểu mình vẫn là một điều trăn trở với kẻ hèn này) nhưng tôi thỉnh thoảng được gặp những bậc trí thức đúng nghĩa, học rộng hiểu sâu nhưng sự khiêm cung và tính cầu thị chẳng bao giờ mất trong suy nghĩ của họ. Đó có thể là một hai anh thầy giáo gàn (người đời gán thế chứ thực ra họ có một thế giới rất riêng tư và kín đáo), một cô giáo sống hòa hợp cùng thiên nhiên (tỉ dụ với suy nghĩ là đất mình – mình sống, đất chuột – chuột sống, không ai phạm vào thế giới của ai nên mọi thứ đều vui vẻ), đó là một nhà nghiên cứu có nhiều tính hư rất người, rất nhạy cảm về ngôn ngữ và đã trải qua bao lần chính biến…

Tôi biết đến nhà nghiên cứu từ lâu, qua những vần thơ ông sáng tác về 64 quẻ Dịch (dù đấy không phải điểm nổi bật nhất từ ông). Ông am tường về Đông Á học, mang cái nhìn đôn hậu và hài hước, được nhiều người biết đến bởi sự quảng bác của mình. Một nhà trí thức đúng nghĩa, dành cuộc đời nghiên cứu những đam mê cá nhân và chẳng màng học hàm, học vị. Có những người may mắn được đi từ KHÔNG đến SẮC. Ông chẳng may mắn (cũng như bao kẻ đồng tộc đương thời), phải đi từ SẮC về KHÔNG. Nhưng phải chăng vì vậy mà cái KHÔNG được ông kể tới luôn thật nhẹ nhàng và dễ hiểu. SẮC và KHÔNG như tôi nghĩ thường như lòng bàn tay với mu bàn tay. SẮC và KHÔNG từ ông như cái bát và phần không gian trong lòng bát. Vật chất giúp ta cầm, nắm nhưng thứ chúng ta cần sử dụng lại là khoảng trống rỗng/khoảng không trong lòng bát. Nếu không có khoảng không ấy, ta biết làm gì để chứa cơm, chứa thức ăn? Nếu lòng bát đặc thì ta biết làm gì và cái bát có còn là cái bát? Ta cần cả hai điều đó, cả SẮC và KHÔNG, chẳng bỏ đi, thiếu đi được thứ gì cả! Từ suy nghĩ ấy, ta chợt nhớ lạị đoạn cuối trong bài “Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài” của cậu Bảy Chiêu ngày nào :

“Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,
Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,
Chung tri vô tự thị chân kinh .”.

Tôi tạm xin dùng bản dịch là :

“Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến,
Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều.
Cho đến dưới đài đá chia kinh,
Mới hiểu không chữ mới là chân kinh”

Phải chăng chân kinh không phải chỉ là phần chữ, mà gồm cả khoảng trắng giữa các con chữ? Suy nghĩ này tương tự như một điều tôi hay được nghe từ những bạn bè tôi rằng âm nhạc phải chăng là khoảng lặng giữa các nốt nhạc?

Tôi kiến thức nông cạn, chỉ dám xin viết tới đây. Mấy câu viết linh tinh bên trên chỉ là suy nghĩ thiển cận cá nhân, chắc hẳn nhiều người đã biết nhưng kẻ hèn này nhân một lúc cao hứng, mạo muội viết ra, chẳng thể tránh khỏi sự chê cười của hào kiệt trong thiên hạ. Nếu có gì chưa phải, xin được mọi người lượng thứ và chỉ bảo.

P.s : Có một sự tình cờ vui vui rằng nhà nghiên cứu tôi được gặp cũng tên là Chiêu, là con thứ bảy trong gia đình có đông anh chị em.

Gác Sơn Thái

Tháng Giêng, năm Đinh Dậu

Trần Quốc Tuấn kính đề.