Niềm tin của rắn.

Trong chương 4, phần 1 của Anh Em Nhà Karamazov, khi Aliosa nói chuyện với cha về niềm tin và mong muốn của mình, lão Fedor đã có những phản hồi khiến nhiều người phải suy nghĩ.

600x325_bro-k-1

Người ta có niềm tin vào Chúa nhưng người ta chẳng tin vào những thầy tu. Người ta sợ quỷ dùng móc câu lôi đi nhưng ai biết ở dưới địa ngục có xưởng rèn móc hay không? Người ta sợ địa ngục nhưng ai biết nó có trần hay không? Nếu không có trần thì sao gọi là ngục? Rồi lão Fedor chia sẻ với con trai về những thứ không thật, những ý niệm của con người về sự vận động của cái thiện và cái ác, những mặt trái của những điều tốt đẹp.

Kết thúc chương 4, phần 1, dẫu nhìn ra (dù đúng hoặc sai) vô vàn mặt trái của những điều tốt đẹp, của những niềm tin nhưng lão Fedor vẫn ủng hộ Aliosa đi theo niềm tin của mình.

Ta thường giống như Aliosa khi còn thiếu niên và dần dần sẽ giống như lão Fedor khi đã trưởng thành rồi về già. Ta thường thấy những điều tốt đẹp khi còn thơ ngây, trong trắng về nhận thức nhưng rồi sẽ nhìn thấy những mặt trái, những điều không như ý khi đã trải qua nhiều câu chuyện, nhiều thời gian. Có mấy ai vui về những điều đó?

Từ ngày internet phổ cập, lượng thông tin chúng ta tiếp thu ngày càng nhiều hơn. Trong khóa học gần đây về khoa học dữ liệu, tôi được biết lượng thông tin chúng ta tiếp cận trong một năm (hiện nay) nhiều bằng lượng thông tin người xưa tiếp cận trong một đời(cách đây vài thế kỷ). Thông tin đa dạng, đa nguồn. Chúng ta là những khách hàng của những bên cung cấp thông tin, tòa báo, đơn vị truyền hình, … Phần lớn thông tin chúng ta tiếp xúc là những thông tin mang trạng thái tiêu cực. Từ những vấn đề vĩ mô cho tới những điều nhỏ nhặt, từ những vấn đề ngoài nước cho tới những thứ trong nước, từ cái đề văn chẳng liên quan gì tới mình cho tới những bất công xã hội mà chẳng biết khi nào mình bị nó sờ gáy… Ta sẽ mang tâm thế nào giữa những ma trận trùng trùng tiêu cực này? Ta có thể làm gì để giữ được niềm tin vào những điều tốt đẹp?

“Sống bằng niềm tin” – Câu nói cửa miệng của những đứa học sinh cấp 2, cấp 3 lứa cuối 8x, đầu 9x giai đoạn 2004 – 2007. Tôi nhớ câu nói đó hàm ý mỉa mai, nói về việc ai đó mong muốn làm được những thứ không thể, không có cơ sở hoặc ngoài khả năng. Nhưng bây giờ, dường như “Sống bằng niềm tin” có thể mang thêm những tầng nghĩa mới. Khi cuộc sống của người ta càng bấp bênh, bất an, ngoài vòng kiểm soát, người ta càng cần đến niềm tin. Niềm tin có thể đến từ tôn giáo – tín ngưỡng, từ lòng tốt hay từ bất kì điều gì người ta có thể tin vào, nhưng chắc chắn đó là thứ người ta không bao giờ có thể vứt bỏ. Niềm tin là thứ để ta đến gần hơn với những điều tích cực, cái tốt, cái đẹp trong cuộc đời hoặc ít nhất là khiến ta có xu hướng lựa chọn nhiều hơn.

Những điều xấu thì dễ đồn xa. Những điều đẹp đẽ, thật thà thì chẳng nhiều người quan tâm tới, như những điều xấu. (Đương nhiên cũng không phủ nhận là các tòa báo sống nhờ quảng cáo và tỉ lệ hiện thị, click, like, share bài viết sẽ cao vọt khi đăng tin tiêu cực). Cả xã hội từ bạn trẻ tới người già như lên đồng để thóa mạ, chê bai một đoạn văn trong cuốn sách của anh tiến sỹ nhưng chẳng ai biết được sự quan tâm của anh tới những người cận tử. Người ta luôn chê bai nền giáo dục là thấp kém, chậm phát triển nhưng không biết tới những người giáo viên luôn hết mình vì học sinh, luôn thay đổi những khung dạy, những cách dạy truyền thống để học sinh có thêm những cách tiếp cận mới. Người ta luôn chê bai một hệ thống y tế kém chất lượng nhưng không bao giờ xem các số liệu thống kê để biết rằng tỉ lệ nhiều bệnh nhân trên mỗi giường bệnh đã giảm theo thời gian, đội ngũ y bác sỹ đã phải làm việc căng thẳng và mệt mỏi ra sao những vẫn hết mình vì công việc… Không có gì là tuyệt đối, kể cả cái tốt và cái xấu. Ta biết cái xấu, cái chưa tốt và ta phê bình, đó là điều bắt buộc phải làm để mọi thứ tốt lên nhưng ta không có quyền phủ định tuyệt đối những giá trị đang tồn tại vì chẳng có sự tuyệt đối nào tồn tại trong những giá trị, hiện tượng, sự vật xung quanh. Một người chê chẳng sao, một trăm người chê cũng chẳng sao nhưng nếu cả vạn người chê thì người thứ vạn lẻ một có đủ bình tĩnh để đọc hết vấn đề rồi mới chê không hay sẽ lập tức chê theo cả vạn đồng bào của mình?

Ai cũng sẽ khác khi trôi đi trong dòng chảy cuộc đời. Thật khó (dù có thể là có) để ai trong số chúng ta có thể mãi mãi là một Aliosa như khi Aliosa đang mong muốn bước vào tu viện (có thể bạn đang nghĩ đến Đường Huyền Trang trong Tây Du Ký hoặc Peter Pan ở Neverland phải không?). peter_pan_1

Nhưng ta vẫn phải giữ thôi, vì chẳng có niềm tin thì ta sẽ chẳng thể nào bước qua được cuộc đời với đầy rẫy những điều ta không biết, ta chưa hiểu. Niềm tin là thứ chẳng ai có thể tước đoạt của ta, một ý niệm cá nhân rất riêng tư và kín đáo. Niềm tin là thứ phá vỡ những bức tường ngăn cách tưởng như không thể đạp đổ. Niềm tin là thứ giữ lại cái đẹp trên mặt đất, sau khi chủ nghĩa lãng mạn chết đi.  Niềm tin là động lực để ta có thể ngây thơ làm nên những điều không tưởng trong cuộc đời này.

Chẳng phải ngây thơ là đặc điểm nổi bật của những người cách mạng hay sao?

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 1989 : 01h18.

 

Trong sắc hoàng lan

Sáng nay, bạn qua nhà sớm. Mắt nhắm mắt mở trùng trục đi ra, bạn cười và đưa cho một chiếc hộp.

IMG_20170624_082232

Mùng một tháng sáu, thế là đã có hoa. Hoàng lan vẫn còn xanh. Nhài thơm ngào ngạt bên cạnh mẫu đơn và hoa cau. Định sang Lý triều xin mấy lá trầu nhưng mà lười quá, thôi thì có sao dùng vậy!

Ngày xưa, người ta hay kiêng hoa nhài trong việc thờ cúng. Hoa nở ban đêm dù thơm, dù đẹp, dù tinh khiết đến mấy cũng chẳng phải là loài đoan chính, dù có thật thơm, thật đẹp nhưng cũng chỉ dùng trong phòng chứ tuyệt đối không để lên bàn thờ. Suy nghĩ của các cụ ngày xưa có thể chẳng còn hợp thời nhưng các cụ có lý của các cụ.

IMG_20170624_090706

Rửa lại một lần, hoa được bày lên đĩa sứ trắng sạch với ba loại thôi. Mùng một thế này cũng gọi là tươm rồi.

Nhìn đĩa hoa trên bàn thờ chợt nhớ lại thuở xưa. Có một thời, hoa chưa được bán bằng gánh, bằng xe đạp như bây giờ. Hoa được bán bằng đĩa, được bày biện sắp xếp bởi những nhà hàng hoa. Cứ mùng một, ngày rằm, những nhà hàng hoa lại mang một đĩa hoa đến cho gia chủ. Trước là ân sâu Phật Thánh cùng gia tiên tiền tổ, sau là trang trí gia môn. Cái lệ ấy dường như đã ngắt quãng từ lâu, đến giờ thì chẳng còn mấy ai theo cả.

Yêu hoa, chơi hoa là truyền thống có từ lâu của người Việt. “Chơi hoa có cả trăm đường”. Mỗi người một nghệ, mỗi người một tinh. Người thích thả trong bát. Người thích dùng bàn chông. Lại có người thích bọt biển. Cũng không hiếm người thích lọ từ nhỏ đến to, từ thấp đến cao, từ đơn tới đa. Người thích kiểu Nhật, kiểu Tàu. Người thích cắm lẫn màu kiểu những năm 80 của thế kỷ trước. Có người thích quy tắc. Có người tùy sở trạng. Người ưa mùi. Người chơi màu.

Hoàng lan xanh quá!

Bên cạnh mùi hoa sữa, Hà Nội còn màu hoàng lan, còn mùi hoàng lan. Một màu xanh đặc trưng và khiêm nhường trong bạt ngàn loài hoa. Màu xanh chẳng ám ảnh như màu mái tóc của người con gái trong bài thơ của tác giả yêu hoa sim ngày nào. Màu xanh cũng chẳng như những điều được chạm tới trong truyện ngắn của Thạch Lam. Màu xanh chẳng hiển nhiên như bầu trời thu Hà Nội. Màu xanh này rất hoàng lan.

Đó là màu của tuổi trẻ, màu của những điều đang qua.

Đó là màu của tiếc nuối, khi đã ở vào tầm tuổi của người viết – một hời hợt trung niên vẫn luôn hoang mang vì những điều gần gũi nhất.

Đó là …

 

Viết lên bầu trời.

Em vẫn đang trên bầu trời, để đến một chân trời mới mà ta chưa bao giờ chạm tới.

Cuộc đời nếu chỉ ổn định (dù là nồng nàn ổn định hay đều đều ổn định) thì chẳng may mắn một chút nào. Ta cần những khoảng lặng, những nốt trầm, những cách xa để có thể nhìn nhau cho rõ, để biết đã nhớ mùi cổ tay nhau chưa?

Giống nhau làm tri kỷ. Ngược nhau làm kẻ thù. Lẫn lộn thì còn phải xét, đúng không?

Mọi thứ đến như sự sắp đặt của vô thường, với những con đường ngập tràn năng lượng tuổi trẻ – thứ xa xỉ xa với ta, một kẻ đã “toan về già” trong một thân hình cận kề trung niên. Những cảm xúc tưởng như tuyệt chủng từ một thời đã xa cứ cuồn cuộn ùa về như thể là sự đền bù của đất trời cho “trung niên nghiêm túc” trong guồng quay bất định của cuộc đời.

Thói đời âm – dương tương hỗ, chẳng trạng thái nào tồn tại độc lập tuyệt đối. Ở đất độc sẽ có cây giải độc mọc lên. Từ trong những bất định đô thị sẽ lại mọc lên những tất định, làm ta thấy bình yên tàm tạm, cho đến khi những bất định, “vong thân” trở lại xâm chiếm tâm hồn. Ta lại tiếp tục xoay vần trong những chuyển mình hàng ngày của đô thị.

Em cao thượng và hồn hậu với ta quá!

Ta linh cảm ta sẽ nợ em nhiều…

Ta thật “sến” phải không?

 

IMG_20170521_214552.jpg

Đâu là chiều sâu nơi bản thể?

Những ngày đẹp trời và rực rỡ của tuổi thanh xuân vẫn diễn ra.

Hôm nay, tôi được nghe giảng về các phương pháp thống kê. Một trong những phần tôi chú ý nhất là “tính hiện sinh của biến ngẫu nhiên”.

Đại lượng biến đổi biểu thị giá trị kết quả của một phép thử ngẫu nhiên, được gọi là biến ngẫu nhiên.

Với mỗi mô hình toán được đặt ra, những dữ liệu thu được vẫn luôn là bất định. Không thể có mô hình toán đưa ra kết quả trùng khớp hoàn toàn với lý thuyết tính toán. Kết quả luôn chỉ là chính nó, khi được sinh ra. Vì vậy, tôi thấy rằng biến ngẫu nhiên có tính hiện sinh.

Hiện sinh (existentialism) là từ dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những người mà tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người — không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động. Hiện sinh có phải là hiện tại, là hết mình rực cháy cho những đam mê, là bây giờ chứ không phải bao giờ khác.

Phải chăng mỗi cuộc đời trong hơn bảy mươi năm có lẽ cũng chỉ là một biến ngẫu nhiên trong một phép thử bất kỳ của vũ trụ trong bao câu chuyện xung quanh?

Cũng phải thôi! 70 năm có thấm vào đâu so với hàng tỷ năm?

Đô thị to lớn như thế mà chứa đầy bất định, nữa là con người nhỏ bé?

Liệu có lúc nào đến chính chân lý cũng tồn tại những sự bất định trong lòng nó?

Tôi vẫn tin khi  ta đẩy không gian ngoại lai đến vô cùng, ta sẽ gặp chiều sâu của bản thể!

Hình ảnh minh họa :

LIM (KHÔNG GIAN NGOÀI) = CHIỀU SÂU BẢN THỂ

“Mấy lời tâm phúc ruột rà…”

“Dương chi tịnh thủy

Biến sái tam thiên

Tính KHÔNG bát đức lợi nhân thiên…”

Chữ KHÔNG là một trong những chữ hay được nhắc tới trong đời sống xã hội và tâm linh Việt, là một trong những biểu tượng gốc rễ của nhà Phật. Chữ KHÔNG trong “tứ cú mê” luôn là đề tài được bàn luận từ Thiền môn tới quán bia. Trong Anh văn, nghĩa của chữ KHÔNG là “emptiness” – sự trống rỗng. Thông tin này được nói đến ở nhiều nơi, một trong những nơi khiến tôi nhớ nhất là bản Tâm Kinh Bát Nhã được chỉnh sửa lại bởi Sư Ông Nhất Hạnh.

Khi chúng ta thật tâm mong muốn điều gì, cả vũ trụ sẽ hỗ trợ chúng ta thực hiện điều mình muốn. Có một đôi câu trong Cư Trần Lạc Đạo của Đức Trần Nhân Tông mà tôi rất nhớ :

“Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ đề một đêm mà chin

Phúc tình cờ gặp tri thức, hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông”.

Chẳng biết cái tâm của tôi có mong muốn gì thật không (hiểu mình vẫn là một điều trăn trở với kẻ hèn này) nhưng tôi thỉnh thoảng được gặp những bậc trí thức đúng nghĩa, học rộng hiểu sâu nhưng sự khiêm cung và tính cầu thị chẳng bao giờ mất trong suy nghĩ của họ. Đó có thể là một hai anh thầy giáo gàn (người đời gán thế chứ thực ra họ có một thế giới rất riêng tư và kín đáo), một cô giáo sống hòa hợp cùng thiên nhiên (tỉ dụ với suy nghĩ là đất mình – mình sống, đất chuột – chuột sống, không ai phạm vào thế giới của ai nên mọi thứ đều vui vẻ), đó là một nhà nghiên cứu có nhiều tính hư rất người, rất nhạy cảm về ngôn ngữ và đã trải qua bao lần chính biến…

Tôi biết đến nhà nghiên cứu từ lâu, qua những vần thơ ông sáng tác về 64 quẻ Dịch (dù đấy không phải điểm nổi bật nhất từ ông). Ông am tường về Đông Á học, mang cái nhìn đôn hậu và hài hước, được nhiều người biết đến bởi sự quảng bác của mình. Một nhà trí thức đúng nghĩa, dành cuộc đời nghiên cứu những đam mê cá nhân và chẳng màng học hàm, học vị. Có những người may mắn được đi từ KHÔNG đến SẮC. Ông chẳng may mắn (cũng như bao kẻ đồng tộc đương thời), phải đi từ SẮC về KHÔNG. Nhưng phải chăng vì vậy mà cái KHÔNG được ông kể tới luôn thật nhẹ nhàng và dễ hiểu. SẮC và KHÔNG như tôi nghĩ thường như lòng bàn tay với mu bàn tay. SẮC và KHÔNG từ ông như cái bát và phần không gian trong lòng bát. Vật chất giúp ta cầm, nắm nhưng thứ chúng ta cần sử dụng lại là khoảng trống rỗng/khoảng không trong lòng bát. Nếu không có khoảng không ấy, ta biết làm gì để chứa cơm, chứa thức ăn? Nếu lòng bát đặc thì ta biết làm gì và cái bát có còn là cái bát? Ta cần cả hai điều đó, cả SẮC và KHÔNG, chẳng bỏ đi, thiếu đi được thứ gì cả! Từ suy nghĩ ấy, ta chợt nhớ lạị đoạn cuối trong bài “Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài” của cậu Bảy Chiêu ngày nào :

“Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,
Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,
Chung tri vô tự thị chân kinh .”.

Tôi tạm xin dùng bản dịch là :

“Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến,
Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều.
Cho đến dưới đài đá chia kinh,
Mới hiểu không chữ mới là chân kinh”

Phải chăng chân kinh không phải chỉ là phần chữ, mà gồm cả khoảng trắng giữa các con chữ? Suy nghĩ này tương tự như một điều tôi hay được nghe từ những bạn bè tôi rằng âm nhạc phải chăng là khoảng lặng giữa các nốt nhạc?

Tôi kiến thức nông cạn, chỉ dám xin viết tới đây. Mấy câu viết linh tinh bên trên chỉ là suy nghĩ thiển cận cá nhân, chắc hẳn nhiều người đã biết nhưng kẻ hèn này nhân một lúc cao hứng, mạo muội viết ra, chẳng thể tránh khỏi sự chê cười của hào kiệt trong thiên hạ. Nếu có gì chưa phải, xin được mọi người lượng thứ và chỉ bảo.

P.s : Có một sự tình cờ vui vui rằng nhà nghiên cứu tôi được gặp cũng tên là Chiêu, là con thứ bảy trong gia đình có đông anh chị em.

Gác Sơn Thái

Tháng Giêng, năm Đinh Dậu

Trần Quốc Tuấn kính đề.